Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

Bắt gặp cá voi trăm tuổi, sống lâu nhất thế giới

J2 hay còn gọi là Granny được biết đến là con cá voi lớn tuổi nhất hiện nay.
Cuối tuần qua, tại khu vực bờ biển đảo Vancouver, eo biển Georgia, người ta đã phát hiện ra một con cá voi hơn trăm tuổi có biệt danh là Granny. Granny hiện được cho là loài "thủy quái" sống lâu nhất thế giới từng được ghi nhận.

Granny là con cá voi lớn tuổi nhất thế giới hiện nay
Granny là một con cá voi cái 103 tuổi, có tên chính thức là J2. Được biết, vòng đời trung bình của cá voi cái thông thường sống trong môi trường tự nhiên là từ 70 - 90 năm, trong khi đó cá voi đực chỉ sống được từ 50 - 60 năm. Nhưng nếu trong môi trường nuôi nhốt, những con số này còn giảm đi đáng kể bởi một loạt những hạn chế như: không gian sống chật hẹp, đòi hỏi luyện tập cao, chế độ ăn uống trái với tự nhiên và tâm lý bị xa cách gia đình.

Hình ảnh con cá voi cái Granny, 103 tuổi
Lần đầu tiên người ta bắt gặp Granny là vào khoảng đầu những năm 1930. Sau này, khi trở thành mẹ và bà của đàn cá voi con, Granny vẫn thường xuyên giữ liên lạc với chúng mặc dù bị xa cách bởi sự can thiệp của con người.

Vì sao xúc tu bạch tuộc không bị rối vào nhau?

Các nhà khoa học cho biết bộ não của bạch tuộc không thể kiểm soát hoàn toàn cùng một lúc tám xúc tu và những chuyển động rất phức tạp của chúng. Tuy nhiên, các xúc tu đó lại không cuốn và rối vào nhau. Một nghiên cứu gần đây đã tìm ra cơ chế giúp chúng tránh được nguy cơ này.

Các nhà khoa học tại Đại học Hebrew Jerusalem của Israel cho biết, các giác hút trên xúc tu bạch tuộc sẽ bám vào bất kỳ vật gì ngoài cơ thể của nó.
Khi xúc tu con vật vừa chạm vào da nó, chất hóa học do da tiết ra sẽ làm các giác hút trên xúc tu tạm ngưng hoạt động và giúp chúng không bị rối vào nhau.
Để khám phá ra điều này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một thử nghiệm độc đáo. Họ cắt rời xúc tu của một con bạch tuộc và cho nó chạm vào một xúc tu khác, vẫn còn dính liền với cơ thể con vật.
Dù bị cắt rời khỏi cơ thể nhưng xúc tu vẫn có thể cử động một lúc lâu, vẫn có thể di chuyển, cuốn vào các vật thể và giác hút vẫn hoạt động. Xúc tu bị cắt rời không thể bám vào những xúc tu khác, nhưng khi các nhà khoa học lột da đi thì nó lại có thể bám vào.
Các nhà khoa học cho biết họ hoàn toàn ngạc nhiên bởi giải pháp thông minh và đơn giản của loại bạch tuộc.

Con sứa tím đầu tiên trên hành tinh

Một con sứa có màu tím với các xúc tu dài đột biến mới được phát hiện ở Australia, có thể thuộc về một loài chưa từng được biết đến.
Con sứa được phát hiện trôi dạt ở bờ biển Coolum, bang Queensland, sáng 21/5. Nó có màu tím đặc trưng và những chiếc xúc tu dài khoảng một mét.
Sứa màu tía trên bãi biển Coolum, bang Queensland. (Ảnh: AAP)
Sau khi phát hiện sinh vật kỳ lạ, các nhân viên cứu hộ bãi biển đã liên lạc với các nhà khoa học thuộc tổ chức nghiên cứu Underwater World. Theo nhóm nghiên cứu, sinh vật này có thể là một loài chưa từng được biết đến trên thế giới.
Tiến sĩ Lisa Gershwin, một thành viên của nhóm nghiên cứu, cho rằng cá thể này có thể thuộc loài thysanostoma. Nhưng thông thường, đây là loài có màu nâu hoặc màu be.
Guardian cho hay, các chuyên gia sinh vật biển vẫn đang cố gắng xác định tên của loài sứa, tuy nhiên màu sắc kỳ lạ của nó đang khiến họ lúng túng. "Sự khác biệt về màu sắc đặt ra câu hỏi rằng, liệu loài sứa này có đặc điểm nào khác hay không", Gershwin, chuyên gia của trung tâm nghiên cứu CSIRO nói.
Sứa thysanostoma hiếm được nhìn thấy ở vùng biển Australia, đặc biệt là bờ biển phía đông nam của Queensland, bởi chúng thích sống ở những vùng biển nhiệt đới ấm hơn.

Phát hiện mới về loài côn trùng ký sinh "khát máu"

Loài côn trùng này sẽ sống ký sinh trên vật chủ, hút cạn chất dinh dưỡng và rồi bay đi...
Trong một lần đi công tác thực địa rừng mây ở Ecuador, giáo sư Scott Shaw thuộc ĐH Wyoming (Mỹ), Laramie và các đồng nghiệp đã phát hiện ra 24 loài ong bắp cày mới.
Trong tổng số 24 loài côn trùng mới được mô tả này, một số loài đã được đặt tên theo những người nổi tiếng như nghệ sĩ Ecuador - Eduardo Kingman, nhà thơ người Mỹ - Robert Frost, ca sĩ, nhạc sĩ người Colombia - Shakira...
Qua nghiên cứu, giáo sư Scott Shaw cho biết: "Loài ong bắp cày mới được phát hiện này khá nhỏ, chỉ dài 4 - 9mm nhưng lại có một tác động rất lớn đến hệ sinh thái rừng".

Loài ong bắp cày Shakira lựa chọn những con sâu bướm làm vật chủ để nuôi lớn bào thai mới nở. Những ấu trùng ký sinh này không ngay lập tức giết chết sâu bướm mà biến chúng thành những lá chắn, bảo vệ cho mình trong suốt một thời gian dài. Trong lúc này, ấu trùng ký sinh sẽ hút cạn các chất dinh dưỡng từ vật chủ để nuôi lớn bản thân.
Cuối cùng, ấu trùng của ong bắp cày sẽ tạo kén bên trong xác của vật chủ. Khi đã hoàn toàn trưởng thành, cá thể sẽ tạo ra một lỗ thoát từ xác sâu bướm và bay đi để giao phối, tiếp tục chu kỳ về hành vi ký sinh của mình.

Hình ảnh một sâu bướm đang bị ấu trùng ký sinh của ong bắp cày tấn công
Giáo sư Shaw nói rằng: "Mặc dù hành vi giết hại vật chủ - sâu bướm là xấu nhưng thực tế, đây là loài côn trùng rất có lợi. Nhưng một cách tự nhiên, những cá thể ong bắp cày này đã kiểm soát dân số của sâu bướm ăn cây, vì vậy đã duy trì sự đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới".
Các nghiên cứu thực địa trước đây được thực hiện bởi giáo sư Shaw tại trạm nghiên cứu lâm nghiệp Yanayacu của tỉnh Napo, trong dãy Andes phía Đông Ecuador cũng đã phát hiện ra 9 loài ong bắp cày biết ký sinh và sát hại vật chủ.

Phát hiện của các nhà khoa học đã mở rộng phạm vi phân bố của loài ong bắp cày ký sinh cũng như hiểu hơn về tập tính sinh hoạt của chúng và sự tác động đến môi trường sinh thái.
Nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ Khoa học Quốc gia Ecuador.

Phát hiện loài chuối hoang dã mới tại Ấn Độ

Các nhà thực vật học đến từ đại học Calicut ở Kerala, Ấn Độ đã công bố những thông tin mô tả về loài chuối hoang dã mới được phát hiện thuộc giống Musa.
Musa là chi (giống) thực vật gốc ở Ấn Độ-Malesian, châu Á và vùng nhiệt đới nước Úc.

Giống chuối hoang dã mới được phát hiện. (Ảnh: Sci-News)
Các loài trong chi Musa khá lớn, chúng được xếp vào dạng thảo mộc lưu niên, có thể cao đến 9m. Trái cây thường có hình trụ dài, từ thẳng đến cong một cách mạnh mẽ, trái có thể dài 40cm và đường kính 8cm.
Có năm phân giống trong chi thực vật Musa là Australimusa, Callimusa, Musa, Rhodochlamys và Ingentimusa. Hai trong số đó là loại chuối có thể ăn được.
Riêng loài mới được phát hiện và mô tả được đặt tên là Musa arunachalensis thuộc vềphân chi Rhodochlamys.
Chuối Rhodochlamys đặc trưng bởi chùm hoa có thể dựng lên hoặc rũ xuống nhưng luôn hướng quả về phần đỉnh của cụm hoa.
Phần lớn chi thực vật Musa tương đối ít trái và vẻ ngoài của chúng dường như thích hợp để trồng làm cây cảnh.
Tạp chí Sci-News cho biết chuối hoang dã Musa arunachalesis được tìm thấy ở West Kameng District, Arunachal Pradesh, đông bắc Ấn Độ. Loài này nở hoa và đậu quả từ tháng giêng đến tháng năm. Điểm khác biệt với Musa khác trong bản chất cụm hoa với lá bắc màu cam đỏ và phần đỉnh màu vàng.

Nghệ thuật ngụy trang của sâu bướm

Hình thù dễ nhầm lẫn với rắn, ốc sên hay các loài thực vật có thể giúp sâu bướm ngụy trang và tự vệ.

Sâu bướm Hemeroplanes triptolemus là ấu trùng của loài bướm đêm thuộc họ Sphingidae, thường được tìm thấy ở nhiều khu vực của Nam Mỹ, châu Phi và Trung Á. Ở dạng ấu trùng, Hemeroplanes có thể phát triển và mở rộng các phần cơ thể, đặc biệt là phần thân trước, khiến chúng có hình dáng như một con rắn nhỏ.

Ấu trùng của loài bướm Papilio troilus có cặp mắt lớn, khiến chúng có hình thù như một kẻ săn mồi cơ hội và đáng sợ.

Con sâu bướm này có hình thù bắt mắt với những búi lông dài màu trắng và nhiều lông gai. Tuy nhiên, đây lại là đặc điểm giúp chúng ngụy trang chất độc.

Phần bụng của con sâu bướm này có kích thước lớn, màu xanh lá và chồng lên phần đầu thật của nó. Đặc điểm này dễ gây nhầm lẫn sâu bướm với một quả dâu chưa chín, giúp chúng tránh được nguy cơ bị chim tấn công.

Khi bị quấy rầy, phần thân của ấu trùng của loài bướm đêm Cerura vinula sẽ phồng lên, làm lộ phần đầu lớn có màu đỏ và đôi mắt giả màu đen. Hai tua nhỏ ở phía sau kéo dài qua lưng, các tiểu quản được đẩy ra từ đầu mút, mang theo một thứ mùi mạnh và khó chịu. Nếu hành động này không đủ để hăm dọa kẻ thù, sâu bướm thậm chí có thể phun cả axit.

Để đối phó với thời tiết lạnh, sâu bướm Gynaephora groenlandica sẽ tiết ra một loại protein có thể giúp tế bào không bị đóng băng hoàn toàn. Cơ thể được bao phủ bởi lớp lông dày cũng có thể giúp chúng hạn chế mất nhiệt.

Sâu bướm Hyalophora cecropia với cái núm nhọn nhiều màu sắc.

Sâu bướm Acharia stimulea có hai màu đặc trưng là xanh lá và nâu. Các gai nhọn chứa chất độc kích thích là lợi thế giúp chúng trốn thoát kẻ thù. Khi tiếp xúc với lông hoặc gai trên thân sâu bướm, phần da trên cơ thể người sẽ bị sưng, có cảm giác đau và thậm chí là buồn nôn.

Các đốm màu và lông tua tủa khiến sâu bướm Orgyia leucostigma dễ bị nhầm lẫn với nhiều loài thực vật.

Sâu bướm Papilio cresphontes có đặc trưng là hai chiếc sừng nhỏ màu đỏ, mở rộng ra phía trước và có mùi thơm.

Sâu bướm giả rắn thoát kẻ thù săn mồi

Nhìn từ đằng xa, con sâu bướm màu xanh béo ngậy này dường như là món ăn rất hấp dẫn đối với bất kỳ động vật ăn thịt nào. Tuy nhiên, khi kẻ thù tiến lại gần, sâu bướm có thể biến hình rất nhanh, trở thành một con rắn đang đu bám trên cây.


Để hù dọa kẻ thù, con sâu bướm biến hình bằng cách nhồi nhét các chân và phình rộng một đầu cơ thể, có các vệt đốm trông như đầu và mặt của một con rắn nguy hiểm.

Con sâu bướm màu xanh biến hình thành con rắn treo lủng lẳng trên cây. (Ảnh: Carters)

Khác với các ấu trùng bướm giả rắn khác, ngoài tài cải trang, con côn trùng có màu xanh rực rỡ này thậm chí cũng bắt chước cách hành xử như một con rắn. Khi có sinh vật khác tiến lại gần, sâu bướm cũng giả vờ tấn công. Tuy nhiên, nó không thể cắn như như loài bò sát đáng sợ.
Giáo sư Daniel Janzen, một nhà sinh vật học đến từ Đại học Pennsylvania (Mỹ) đã chụp ảnh loài côn trùng kỳ dị này trong quá trình nghiên cứu sâu bướm ở khu vực Trung Mỹ.
"Đối với người bình thường, loài sâu bướm này có thể trông kỳ dị và đáng sợ. Nhưng đối với tôi, nó chỉ giống như một cuộc dạo chơi trong công viên. Mọi con sâu bướm ở Costa Rica đều trông giống thứ gì đó khác, từ chiếc lá, nhành cây và trong trường hợp này là một con rắn trơn tuột", ông Janzen bộc bạch.
Một loài sâu bướm giả rắn nhưng không tấn công ở Brazil
Vị giáo sư sinh vật học này đã tìm hiểu về các loài sâu bướm Costa Rica kể từ năm 1978. Ông cho biết, đã bắt được mẫu sâu bướm giả rắn ở khu bảo tồn Guanacaste, tây bắc Costa Rica và được UNESCO công nhận là di sản thế giới.
Theo ông Janzen, con sâu bướm trên thuộc họ Hemeroplanes. Khả năng biến hình của nó nhằm xua đuổi kẻ thù ăn thịt trong khi còn ở giai đoạn ấu trùng, trước khi phát triển sang giai đoạn nhộng.

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

Loài chim có bộ lông như sư tử

Bồ câu Jacobin có hình dáng đặc biệt với phần lông vũ bao quanh cổ và vượt cao quá đầu, được đánh giá là giống chim bồ câu có vẻ ngoài thu hút.

Bồ câu Jacobin là giống chim bồ câu cảnh. Cùng với nhiều loài chim bồ câu được thuần hóa khác, chúng là thế hệ sau của chim bồ câu đá (Columba livia).

Đặc trưng của loài chim này là ở lớp lông rậm quanh cổ, mở rộng cao quá đầu và dựng thẳng. Với đặc điểm này, mặt của chúng chỉ có thể được nhìn thấy từ đằng trước.

Bộ lông có thể có một màu trắng muốt, hoặc cũng có loài chim mang lông xám hay lông đa màu. Chim có lông vũ dài, chân dài và đuôi mỏng.

Jacobin là một trong những giống chim bồ câu thuần hóa lâu đời nhất thế giới. Tuy nhiên, nguồn gốc của loài này hiện chưa được nghiên cứu chính xác. Một số chuyên gia cho rằng chúng có nguồn gốc từ Ấn Độ hoặc là loài bản địa của đảo Cyprus. Chúng xuất hiện ở châu Âu từ khoảng thế kỷ 16, sau đó được trải qua 4 giai đoạn phát triển do các chuyên gia lai tạo thực hiện.

Vì tầm nhìn bị hạn chế nên loài chim bồ câu này gần như không thể bay. Thay vào đó, chúng chỉ di chuyển trên mặt đất.

Bồ câu Jacobin ăn khá ít và được đánh giá là những ông bố bà mẹ tốt khi chăm sóc chim bồ câu con.

Tìm hiểu loài cá hàm đầy răng nhọn bí ẩn

Một loài cá nhỏ với bộ hàm đầy răng nhọn đang là một bí ẩn làm đau đầu các nhà khoa học nghiên cứu về nó.
Kryptoglanis shajii là một loài cá da trơn sống dưới lòng đất, chỉ dài 10cm và có nhiều đặc điểm hạn chế về cấu trúc xương như hàm dưới bạnh ra. Gương mặt xương xẩu lạ lùng của loài cá này đã gây trở ngại cho các nhà khoa học trong việc phân loại chúng.
Những người bình thường hiếm khi có cơ hội nhìn thấy loài cá này vì nó chỉ sinh sống ở một địa điểm duy nhất trên thế giới: dãy núi Western Ghats ở Kerala, Ấn Độ.
Cận cảnh cấu trúc xương mặt của cá Kryptoglanis. (Ảnh: Live Science)
Mặc dù hầu hết thời gian chúng giấu mình trong lòng đất, đôi khi chúng vẫn ngoi lên ở các dòng suối, giếng nước và ruộng lúa nước quanh đó.
Những hiểu biết của các nhà khoa học về loài cá này quá ít khiến họ vẫn chưa thể công bố đây là một loài mới cho tới năm 2011.
Vào thời điểm đó, John Lundberg, người phụ trách khoa Ngư học, Học viện Khoa học tự nhiên trực thuộc Đại học Drexel (Philadelphia, Mỹ) mới bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về loài cá lạ này.
“Càng nghiên cứu cấu trúc xương của loài cá này, chúng tôi càng cảm thấy lạ lùng. Những đặc điểm của chúng hết sức khác biệt, khiến chúng tôi rất vất vả trong việc đặt chúng vào gia phả các loài cá da trơn".
Vẻ ngoài của cá Kryptoglanis shajii cũng tương tự các loài cá da trơn khác, nhưng khi nghiên cứu kỹ, các nhà khoa học đã có những phát hiện đáng ngạc nhiên.
Lundberg và các đồng nghiệp đã chụp X-quang điện tử và quét hình ảnh ba chiều để nghiên cứu cấu trúc xương của loài cá này, và phát hiện ra chúng thiếu một số xương.
Phát hiện này vẫn chưa đủ để khuấy động các nhà khoa học vì thực tế một số loài cá sống dưới lòng đất khác cũng có xương bị thiếu. Tuy nhiên điều thực sự gây ngạc nhiên ở đây là hình dạng một số xương của cá Kryptoglanis hết sức đặc thù và chưa từng bắt gặp ở bất cứ loài nào.
Rất nhiều xương đơn lẻ trên mặt của loài cá này đã biến đổi khiến mặt chúng có vẻ như bị nén lại với cái hàm bạnh ra giống chó bun. Loài cá này còn có 4 hàng răng hình nón sắc nhọn.
Lundberg cho rằng, những cấu trúc xương đa dạng và độc đáo này có thể có mục đích nào đó về chức năng. “Ở loài chó, việc có vẻ ngoài đặc biệt là do lai giống có lựa chọn. Nhưng với loài cá này, chúng tôi vẫn chưa biết chắc chắn chuyện gì đã xảy ra trong quá trình tiến hóa tự nhiên khiến chúng trở nên giống như bây giờ".
Cá Kryptoglanis. (Ảnh: Live Science)
Các nhà khoa học đã loại bỏ khả năng gương mặt kỳ dị của loài cá này là kết quả của chế độ ăn uống của chúng, vì dựa trên cấu trúc răng và môi trường sống dưới lòng đất, chúng có khả năng chỉ ăn những động vật không xương sống và ấu trùng.
Bí ẩn của loài 11:15:39 đã khiến các nhà khoa học khác cũng hết sức chú ý. Ralf Britz, một nhà nghiên cứu ngư học thuộc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên (London, Anh) đã dẫn đầu một nghiên cứu riêng biệt về cấu trúc xương đặc biệt của loài cá trên.
Không giống nghiên cứu của Lundberg, nghiên cứu của Britz và các đồng nghiệp sử dụng một kỹ thuật gọi là “tẩy và nhuộm".
Kỹ thuật này dùng các hóa chất để làm hiện lên các mô của loài cá này trên kính trong, cũng như làm xuất hiện hình ảnh xương và sụn của chúng trên kính màu tương phản.
Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều điều chưa được biết đến về loài cá bí ẩn này. Ví dụ, cả hai nghiên cứu nói trên vẫn chưa kết luận được chắc chắn tại sao cá Kryptoglanis lại khác thường đến thế so với những loài cá khác, cũng như không chỉ ra được loài nào có thể là họ hàng gần nhất của chúng.

Phát choáng trước đàn cá vàng khổng lồ dài tới 40cm

Những con cá vàng khổng lồ đột biến ở sông Vasse, Úc có chiều dài lớn hơn gấp 8 lần so với cá vàng cảnh thông thường.
Hiện nay, tình trạng xâm lấn của cá vàng khổng lồ đang diễn ra ngày một dữ dội tại con sông Vasse, phía Nam thành phố Perth, Úc.

Thông thường, cá vàng cảnh nuôi trong nhà thường chỉ có chiều dài thân tối đa là 5cm. Nhưng đàn cá vàng đột biến sinh sống tại sông Vasse lại có chiều dài lên tới 40cm và nặng khoảng 2kg mỗi con.
Được biết, những con cá vàng khổng lồ này đều là cá cảnh nuôi thông thường. Sau khi được chủ thả về với thế giới tự nhiên, chúng đã "phát tướng" do ăn quá nhiều lượng trứng của các loài cá khác và tảo ở dưới lòng sông.

Một nhóm các nhà nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Thú y và Khoa học Murdoch, thành phố Perth cho biết, trong 1 thập kỷ qua, họ đã di cư hơn 1.600 con cá vàng khổng lồ đi khỏi khu vực này và kiểm soát mức độ tăng trưởng của chúng. Theo Giáo sư Stephen Beatty, cá vàng khổng lồ sông Vasse có thể phát triển chiều dài lên tới 18cm chỉ ngay trong năm đầu tiên.
Hiện nay, đàn cá vàng khổng lồ này đã tràn sang khu vực Wilyabrup Brook, gần thành phố Busselton. Và đáng lo sợ hơn cả, chúng có thể tấn công xa hơn sang khu vực nước mặn mặc dù loài này vốn được biết đến chỉ có thể sống được ở môi trường nước ngọt.

Kỳ lạ loài cóc mọc "ria mép" sắc như kiếm

Nhiều người thường cho rằng, ếch, cóc là một loài vật hiền lành nhưng điều này không đúng với loài cóc Nga Mi có tên khoa học là Leptobrachium boringii. Cóc Nga Mi là loài đặc hữu của Trung Quốc, chúng chỉ được tìm thấy ở các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam và Tứ Xuyên.

Môi trường sống yêu thích của chúng là các khu rừng ôn đới hoặc đồng cỏ. Tuy nhiên ngày nay do sự xâm lấn của con người nên chúng phải sống trên đất canh tác hoặc các khu vườn gần sông. Loài cóc Nga Mi này có hàng ria mép sắc nhọn như kiếm mọc khắp môi với chức năng chủ yêu để gây ấn tượng với bạn tình. Cho nên chỉ có con đực mới phát triển hàng ria đặc biệt này.

Vào mùa sinh sản những con đực sẽ mọc thêm từ 14 – 16 gai nhọn ở mép. Lúc này,Leptobrachium boringii sẽ trở nên hung hãn khác thường. Những cái gai lúc này được chúng sử dụng làm vũ khí để cạnh tranh bạn tình nên có chứa chất độc có thể giết chết kẻ thứ 3.

Con đực trưởng thành có chiều dài cơ thể có thể đạt tối đa là 75mm trong khi con cái trưởng thành chỉ có kích thước khoảng 65mm. Chúng có thể kết đôi và giao phối thành từng cặp riêng lẻ hoặc cũng có thể một con đực giao phối cùng lúc với nhiều con cái. Khi không tìm thấy đối phương, con bố còn giao phối với chính con của nó.

Trứng được con cái dùng chất nhầy dính trên các tảng đá và con đực có nhiệm vụ bảo vệ bằng những chiếc ria mép có độc. Hai con đực thường trải qua trận đấu sinh tử để dành bạn tình trong mùa sinh sản.

Hiện nay do môi trường sống tự nhiên bị thu hẹp, chúng phải di chuyển đến những địa điểm gần khu dân cư. Điều này khiến cho chúng gặp nguy hiểm và có nguy cơ tuyệt chủng.

Loài vật lười biếng nhất thế giới

Trong thế giới loài vật, loài lười với cái tên biểu thị tính cách được cho là lười biếng nhất. Nhưng trong loài lười, thì có một loài được coi là "vua lười". "Vua lười" Bradypus tridactylus phân bố ở Trung và Nam Mỹ trong những rừng cây và dọc bờ sông, nơi có cây Cecropia lyratiloba sinh sống.
Sở dĩ loài Bradypus tridactylus, được coi là loài là loài thú lười biếng nhất thế giới, bởi ít có con thú nào di chuyển chậm chạp như nó. Loài rùa, vốn nổi tiếng chậm chạp, còn thua xa về độ lười biếng so với con Bradypus tridactylus. Các nhà khoa học đã đo tốc độ của con Bradypus tridactylus và nhận thấy mỗi ngày, con vật to tướng này chỉ di chuyển trung bình 28 mét.

Món ăn ưa thích của Bradypus tridactylus là lá cây, cành non loại cây Cecropia lyratiloba. Do thị giác và thính giác của chúng rất kém, nên chúng chả khác nào bị mù. Chúng tìm thức ăn theo kiểu người mù, đó là ngửi và sờ mó. Thậm chí, chúng lười đến nỗi không chịu đưa tay kéo chiếc lá vào miệng, mà chỉ chén những chiếc lá non ở ngay miệng, với một tốc độ chậm kinh khủng.
Có lẽ bởi sự chậm chạp trong hành động, mà chúng tiêu tốn năng lượng cực ít. Phải mất 1 tháng, chúng mới tiêu hóa hết thức ăn có trong dạ dày. Có lẽ, cho lười biếng trong việc tìm kiếm thức ăn, nên cơ thể chúng tiêu hóa cạn kiệt, không lãng phí chút thức ăn nào kiếm được.

Loài lười Bradypus tridactylus có khả năng treo mình bất động trên cây nhiều giờ liền. Những loài thú ăn thịt không nhận ra chúng với tư thế bất động như xác chết. Vì chúng cực kỳ ít di chuyển, lại di chuyển cực chậm, nên vào mùa mưa, các loại tảo, rêu mốc mọc kín lông, khiến chúng biến thành màu xanh rêu. Lười đến mức mọc rêu trên người, thì quả thực không hổ danh "vua lười".
Loài Bradypus tridactylus có kiểu sinh hoạt cực kỳ lạ đời, ấy là quanh năm suốt tháng treo ngược thân thể lên cành cây. Lúc ăn, lúc ngủ, thậm chí khi đẻ cũng treo mình như võng, ngửa bụng lên trời. Phần lớn thời gian trong ngày của Bradypus tridactylus là ngủ treo mình trên cây. Chúng chỉ hoạt động kiếm ăn vào ban đêm.

Mặc dù chậm chạp, nhưng ít khi các loài thú khác tấn công được chúng, bởi chúng có bộ móng vuốt vô cùng sắc bén. Bình thường, bộ móng vuốt này giúp chúng treo mình trên cây, nhưng khi gặp nguy hiểm thì biến thành vũ khí. Chỉ một cú vả của "vua lười", thú ăn thịt toạc da, tóe máu.

Mặc dù phần lớn thời gian treo ngược trên cây, nhưng thi thoảng Bradypus tridactylus cũng xuống đất. Sở dĩ chúng xuống đất là để đi vệ sinh. Chúng tạo ra cái lỗ, rồi mỗi tuần đi vệ sinh 1 lần vào đó. Cái cách chúng xuống đất cũng cực kỳ hài hước. Chúng nằm ngửa hoặc nằm sấp, dùng móng vuốt bập vào đất để kéo lê cơ thể đến chỗ đi vệ sinh.

Mùa giao phối của Bradypus tridactylus vào tháng 3 và tháng 4. Con cái mang thai tới 180 ngày và chỉ sinh duy nhất 1 con. Lười con được mẹ sinh ra trong tư thế treo ngửa trên cây. Vừa ra đời, lười non đã biết bám vào lông lẹ và sống trên bụng mẹ. Sau 5 tuần tuổi, chúng đã có thể tự leo trèo. Chúng bú mẹ khoảng 1 tháng, thì được mẹ nhai mớm món lá cây. 6 tháng tuổi chúng tự kiếm ăn.

Kỳ lạ ếch “làm tổ” trong cổ họng cá

Một người câu cá chuyên nghiệp ở Australia đã vô cùng kinh ngạc khi phát hiện một con ếch cây còn sống, đang trú ngụ bên trong miệng của một con cá ngựa nam (jungle perch) to lớn.
Chuyện kỳ quặc xảy ra với Angus James khi anh đang đi câu cá ở vùng sông nước cách khu vực Townsville, phía bắc bang Queensland, Australia khoảng một giờ lái xe.

Anh James kể, khi tháo móc câu khỏi miệng của một con cá ngựa nam to lớn vừa may mắn “chộp” được, anh kinh ngạc phát hiện một con ếch cây màu xanh đang chễm chệ bên trong cổ họng của nó. Do lúc nào cũng mang bên mình máy ảnh, nên anh James đã nhanh chóng ghi lại cảnh tượng hiếm gặp.
Điều đặc biệt về bức ảnh là, con ếch dường như đang mỉm cười khi camera chớp nháy. Ngay sau đó, con ếch đã nhảy qua đầu của anh James và tẩu thoát.
Sau khi chụp được cảnh tượng lạ hồi cuối tuần, anh James đã gửi bức ảnh tới tạp chí Reptiles. Khi được đăng tải trên trang Facebook của tạp chí, bức ảnh ngay lập tức đã thu hút hơn 40.000 lượt “like” (thích) và tới 2.000 lượt bình luận khác nhau.
Theo các chuyên gia, ếch cây xanh là một loài sinh trưởng tự nhiên ở Australia và New Guinea. Loài lưỡng cư này hiện đã du nhập vào New Zealand và Mỹ. Ếch cây xanh có kích thước cơ thể lớn hơn đa phần các loài ếch của Australia, với chiều dài tối đa có thể đạt hơn 10cm.

Hiện, bản thân anh James và các chuyên gia vẫn chưa rõ con ếch cây xanh đã “làm tổ” bên trong miệng con cá ngựa nam bao lâu cho tới khi bị phát hiện. Tuy nhiên, tuổi thọ trung bình của loài lưỡng cư này trong môi trường nuôi nhốt khoảng 16 năm.
Ếch cây xanh thường kêu thất thanh khi gặp nguy hiểm nhằm hù dọa kẻ thù và rít lên khi bị chạm vào cơ thể. Dẫu vậy, anh James cho biết đã không nghe thấy những tiếng động này, có thể vì con ếch không quá hoảng sợ khi bị phát hiện.

Khỉ mẹ đau buồn ôm xác con 3 ngày

Nhiếp ảnh gia đã ghi lại được khoảnh khắc đau thương nhất về con khỉ mẹ ôm xác con trong 3 ngày.
Cảnh tượng đau lòng được nhiếp ảnh gia Andrew Walmsley (31 tuổi) ghi lại ra tại Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên Tangkoko ở Sulawesi, Indonesia. Hai mẹ con khỉ thuộc họ khỉ mào đen, được xếp vào loại động vật cực kỳ nguy cấp do bị săn bắt và mất dần môi trường sống.

Hai mẹ con khỉ thuộc họ khỉ mào đen
Theo lời nhiếp ảnh gia, khỉ mẹ trải qua nhiều ngày bên xác khỉ con đã qua đời chỉ vài tuần sau sinh. Nó bồng con với ánh mắt buồn bã, cử chỉ âu yếm, nhẹ nhàng và đe dọa bất cứ con vật nào tìm cách tiếp cận.

Trong ảnh, khỉ mẹ nhe răng đe dọa con khỉ đực đang chạm vào khỉ con

Nhiếp ảnh gia Walmsley, đến từ TP Oxford (Anh) cho biết anh và nhóm nghiên cứu lần đầu tiên nhìn thấy cảnh tượng khỉ mẹ ẵm xác con từ khoảng 11 giờ.
Nhiếp ảnh gia kể lại: “Ban đầu, tôi thấy khỉ mẹ đi ngang qua mặt tôi và khiến tôi chú ý bởi con vật nó bồng trước ngực. Tuy nhiên, hai chân của con vật bị kéo lê dưới đất và tay không ôm vào bụng khỉ mẹ. Nó bồng khỉ con, ngồi xuống, bất động nhìn con hơn 15 phút. Lát sau, một con khỉ đực trẻ tiếp cận và tìm cách chạm vào khỉ con. Tuy nhiên, khỉ mẹ đã nhe răng, nắm lấy cổ tay khỉ đực và đẩy đó đi xa và nó lại ôm ấp con”.

Khỉ mẹ buồn bã ôm chặt xác con

Nhiếp ảnh gia cho biết quan sát hành động con vật là quá trình khó khăn và cảnh khỉ mẹ mất con chẳng khác nào giây phút mất mát ở con người. “Chúng tôi đã theo dõi khỉ mẹ suốt 1 giờ, sau đó ngồi xuống quan sát nó. Bạn sẽ nhận ra rằng không có nhiều khác biệt giữ chúng ta và chúng khi chứng kiến những hành vi như thế này”, nhiếp ảnh gia nói.

Khỉ nào đen mẹ tiếp tục bồng đứa con đã chết trong 2 ngày nữa

Sau khi Walmsley rời công viên, con khỉ mào đen tiếp tục bồng đứa con đã chết trong 2 ngày nữa, trước khi buông bỏ khỉ con.
Vườn quốc gia và khu bảo tồn Tangkoko hiện là thành trì chính bảo vệ loài khỉ mào đen. Loài này bị đe dọa bởi sự săn bắt ngày càng hung bạo của con người vì thịt khỉ được coi là món ăn khoái khẩu của người Indonesia trong các sự kiện đặc biệt như Giáng sinh và Lễ Phục sinh.

Ném ốc sên đi xa 20m để làm sạch khu vườn của bạn

Một nghiên cứu mới được công bố ngày 16/5/2014 trên tạp chí Physica Scripta đã sử dụng các mô hình thống kê để chứng minh rằng chỉ đơn giản bằng cách giết những con ốc sên mà bạn phát hiện thấy trong khu vườn của mình sẽ mang lại rất ít hiệu quả nếu bạn muốn chúng biến hoàn toàn khỏi khu vườn của bạn.
Theo những nhà làm vườn, nghiên cứu phải trở lại với mặt hạn chế thiệt hại, khi những kết quả của họ cho thấy những con ốc sên là một phần của các đàn ốc sên lớn hơn sống trong khu vườn, chúng bò đến và bò đi giống như chúng muốn sử dụng một bản năng trở về tổ.
Trái ngược với việc giết một con ốc sên, việc ném nó bay qua tường là khá hiệu quả, và kết quả nghiên cứu cho thấy nếu con ốc sên được vứt ra khỏi vườn với khoảng cách 20m trở lên, khả năng tìm được đường về lại tổ của nó tại khu vườn của bạn gần như bằng không.
Đồng tác giả của nghiên cứu, giáo sư David Dunstan, đến từ trường Vật lý và thiên văn học thuộc trường Queen Mary nói: “Chúng tôi đã chứng minh rằng số lượng ốc sên thường xuyên hoặc đột xuất ghé thăm một khu vườn là lớn hơn rất nhiều so với số ốc sên thực sự có mặt tại mọi thời điểm trong một khu vườn". Như vậy, những người làm vườn không thể vạch ra cách để loại bỏ lũ ốc khỏi khu vườn của họ.

Để đạt được kỳ tích như vậy người làm vườn sẽ phải giải phóng toàn bộ lũ ốc sên hàng xóm của lũ ốc sên trong vườn, mà đó sẽ là một quá trình rất mất thời gian. “Những người làm vườn nên vạch ra cách để có thể giảm thiểu những thiệt hại do ốc sên, mà kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có thể nhanh chóng đạt được mục đích loại bỏ hoàn toàn lũ ốc sên ra khỏi vườn bằng cách rất đơn giản đó là di chuyển chúng ra khoảng cách xa hơn 20m”.
“Một cuộc thăm dò gần đây của hội làm vườn Hoàng Gia Royal Horticultural Society cho thấy, 1/5 những người làm vườn tại Anh đã ném những con ốc sên vào vườn của các hàng xóm láng giềng. Trong khi nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, điều này có lợi hơn là giết lũ ốc sên đi, chúng tôi tin rằng cộng đồng làm vườn sẽ được lợi khi dời những con ốc sên tới một khu đất hoang hơn là ném gánh nặng lên các hàng xóm của họ”.
Trong năm 2010, đồng tác giả của nghiên cứu Tiến sĩ Dave Hodgson, từ Đại học Exeter, cùng với nhà khoa học nghiệp dư Ruth Brooks đã phát hiện thấy ốc sên có bản năng tìm về tổ.
Nghiên cứu của giáo sư Dunstan đã bắt đầu vào năm 2001 khi một khu vườn tại một ngoại ô nhỏ đã được tân trang lại. Khoảng 120 cây được trồng vào đầu mùa hè, và sau một vài ngày, người ta đã quan sát thấy những thiệt hại nghiêm trọng do ốc sên gây ra.
Tốt hơn so với giết những con ốc sên, các chủ sở hữu đã loại bỏ những con ốc sên trong sáu tháng một cách có hệ thống. Mỗi con ốc được tìm thấy có vỏ được đánh dấu và được ném xa 5 mét bay qua tường của khu vườn vào một khu đất hoang. Tất cả những con ốc bò lại khu vườn được đánh dấu thêm trên vỏ tại bất cứ nơi nào tìm thấy chúng.
Tổng cộng có 416 con ốc sên được đánh dấu và ném bay qua tường 1385 lần trong suốt nghiên cứu này.
Sau khi thu thập các kết quả, giáo sư Dunstan đã hợp tác với tiến sĩ Hodgson cùng phân tích các dữ liệu từ thí nghiệm năm 2001 của ông, sử dụng mô phỏng máy tính để xem liệu các kết quả thực tế có thể nhân rộng hay không. Trong mô hình máy tính, mỗi con ốc sên được tạo ra như một đối tượng với các đặc tính và hành vi khác nhau và được cho phép“tự làm việc của chính chúng”.
Các nhà nghiên cứu có thể can thiệp vào các mô hình máy tính tại thời điểm nhất định và thay đổi các thông số khác nhau. Họ phát hiện ra rằng, họ chỉ có thể nhân rộng các kết quả thực tế nếu ốc được cho một bản năng tìm đường về tổ.
Về giai đoạn tiếp theo của nghiên cứu, đồng tác giả, tiến sĩ Dave Hodgson cho biết: “Tự những con ốc sên tiết lộ chính chúng là một mô hình sinh vật phong phú, dễ bảo và bí ẩn. Kế hoạch của chúng tôi là phát triển các nghiên cứu về hành vi của ốc sên như là một thực hành giảng dạy thú vị cho các nhà khoa học tài năng chớm nở thuộc tất cả các lứa tuổi”.

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014

Kỳ dị những sinh vật "ngoài hành tinh" có một không hai

Đại dương bao la luôn là “ngôi nhà lý tưởng” của các loại động vật kỳ lạ, hiện tại các nhà khoa học vẫn luôn không ngừng khám phá tìm ra những động vật này.

Một ngư dân người New Zealand đã bắt được một “con tôm” lạ, nó có vẩy, nhưng trong suốt như thạch, bên trong thân còn có một bộ phận tròn như quả bóng màu cam. Các chuyên gia giải thích rằng sinh vật này được gọi là Salps, là một động vật biển, chủ yếu ăn các sinh vật phù du. Sinh vật này trong suốt để ngụy trang bảo vệ mình khỏi những kẻ săn mồi nguy hiểm.

Một nhiếp ảnh gia đã tình cờ chụp được loài bọt biển này tại vùng biển Caribbean. Nó có đôi mắt nhô ra, miệng rộng, bề ngoài màu xanh. Sinh vật kỳ lạ cũng chủ yếu sinh sống nhờ ăn các sinh vật phù du.

Người dân địa phương ở bang Washington của Mỹ tìm thấy sinh vật hiếm ở ven biển biển, nó có hình dạng như một con sứa, có các xúc tu dài màu xanh lá cây và có thể thu nhỏ“chân tay”. Chuyên gia Mỹ cũng cho biết, lần đầu tiên phát hiện ra sinh vật biển kỳ lạ này, tạm thời họ cũng chưa biết nó có tên khoa học là gì.

Oarfish còn được gọi là cá mái chèo, vua của cá trích hoặc oarfish khổng lồ, loài cá này được phát hiện tại bờ biển phía Tây của Thụy Điển. Các chuyên gia hải dương cho biết, đây là con cá lớn nhất trong vòng 130 năm kể từ khi lần đầu tiên phát hiện loài cá này ở các nước Bắc Âu. Nó có chiều dài tới 12m.

Là một trong những loài động vật không xương sống lớn nhất thế giới, sống ở vùng biển sâu, chủ yếu ăn các loại cá nhỏ, loài mực ống khổng lồ chỉ nổi lên biển khi bị thương hoặc chết.

Vào hồi tháng 4 năm 2012, Andy Logan, 38 tuổi, đang đánh bắt cá ở biển, anh đã bắt được chú cá lạ nặng tới 111kg, dài khoảng 2m, chiều ngang khoảng 3,5m.

Vùng nước ở Bali ở Indonesia vốn nổi tiếng với những động vật hiếm. Loại sinh vật này họ nhà tôm, có thân màu xanh. Hai mắt lồi trông rất lạ thường.

Sâu Spaghetti còn gọi là giun phẳng và côn trùng sứa chích, sinh vật này được gọi là thế bởi vì nó có thể đưa các xúc tu ra bốn phía để bắt mồi.

Loài cá này được tìm thấy ở vùng biển Tây Đại Tây Dương. Cơ thể và đuôi của nó có màu đen, thân người có rất nhiều đốm nhỏ màu trắng. Sinh vật này thích sống một mình hoặc thành bầy nhỏ, chuyên ăn các động vật thân mềm như đông vật giáp xác.

Loài sinh vật này mỏng như tờ giấy. Tuy nhiên nó không hề dễ bị “bắt nạt”, khi nó bị tấn công, thì một chất kích thích từ bên trong của sinh vật này sẽ tiết ra làm tê liệt đối thủ.

Loài sinh vật này được đặt tên theo hình dạng của nó - “cá ngựa lùn”. Nó có màu sắc thân tươi, giúp cho nó có thể trú ẩn trong các tảng san hô. Cá ngựa lùn chủ yếu sinh sống ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Vì kích thước cực kỳ nhỏ bé của mình, bản năng ngụy trang cũng rất mạnh mẽ, các thợ lặn thường khó phát hiện sự hiện diện của nó.

Tháng 1 năm 2010, nhà sinh vật biển người Đài Loan đã phát hiện ra loài cua mới, nhìn bề ngoài nó giống như quả dâu tây.

Tháng 6 năm 2012, một ngư dân Canada bắt được một con tôm hùm màu xanh hiếm gặp, xác suất xuất hiện của con tôm này là 1/200 triệu. Theo một ngư dân 51 tuổi cho biết, tôi đã đánh bắt cá 33 năm nay, trung bình mỗi ngày bắt được khoảng 3000 con nhưng đây là lần đầu tiên tôi bắt gặp loại tôm hùm này.

Đây cũng là một loại thân mềm, nó có màu sắc tím. Sinh vật này sống ở độ sâu từ 1200 tới 1800, và có chiều dài từ 3 tới 25mm.

Có ngoại hình như một dây pháo, loài sinh vật này sống ở độ sâu 400 cho tới 3000m, chiều dài khoảng 40mm. Hiện tại các nhà khoa học cũng chưa biết sắp xếp loài động vật này vào chủng loại nào.


Loài sinh vật này chỉ có 2 xúc giác, nhìn mặt trước giống như một con vẹt, sống trong 300-5.000 mét của đại dương, các nhà khoa học đang nghiên cứu thói quen của loại động vật này.