Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014
Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014
Sinh vật bí ẩn ăn thịt cá mập trắng khổng lồ
Trong chương trình truyền hình của kênh Smithsonian Channel, một nhà sinh vật học đã làm sáng tỏ bí ẩn đằng sau vụ cá mập trắng dài 3 m bị ăn thịt dã man ở Australia.
Theo đó, những giả thiết như quái vật biển hay Godzilla đã ngay lập tức bị gạt bỏ mà thay vào đó là một con cá mập to hơn gấp nhiều lần so với con cá mập trắng tội nghiệp bị sát hại 10 năm trước.Ảnh minh họa.
Nhà làm phim kiêm nhà sinh học biển Dave Riggs cho biết: “Nhiệt độ bên trong sinh vật ăn thịt con cá mập trắng rất kỳ lạ. Nó quá thấp so với một con cá voi sát thủ và quá cao đối với những loài cá mập khác, trừ khi đó phải là một con cá mập cực kỳ lớn chưa được biết đến. Tôi nghĩ rằng giả thiết sát thủ là một con cá mập khổng lồ là hợp lý nhất ở thời điểm này".
“Các bạn đừng quá sợ hãi, loài sinh vật này có thể không quan tâm tới người bởi nếu điều đó xảy ra sẽ không ai có thể ra đại dương một cách an toàn cả” – Riggs cho biết thêm.
Con cá mập trắng xấu số đã được gắn thiết bị theo dõi (chip) trong một chương trình của tổ chức bảo vệ động vật hoang dã. Sau 4 tháng theo dõi, họ bất ngờ phát hiện ra chip trên người con cá mập đã bị trôi dạt vào một bãi biển và con cá mập đã bị ăn thịt.
Các nhà khoa học cho hay, con cá mập đã bị kẻ ăn thịt bí ẩn dìm xuống độ sâu khoảng 580m dưới đáy biển. Con cá mập ở dưới đó trong nhiều ngày sau đó trước khi thẻ chip gắn trên người nó dạt lên bờ.
Các dữ liệu phân tích cũng cho biết, một loài “siêu động vật” nào đó đã xé xác con cá mập và sau đó bơi xuống đáy biển với tốc độ rất cao.
Ếch tung hoành trên cơ thể rắn
Bằng cách bám trên lưng một con rắn lớn, một chú ếch xanh trong vườn thú ở Indonesia có thể thực hiện mọi động tác mà nó muốn.
Cảnh tượng kỳ lạ này diễn ra trong một vườn thú ở thành phố Jakarta, Indonesia.
Mặc dù, sống trong điều kiện nuôi nhốt cùng nhau, rắn và ếch không hề tỏ ra “khó chịu”. Thỉnh thoảng, rắn ngửi xung quanh cơ thể con ếch, nhưng sau đó nó để cho ếch “tự do” hoạt động trên cơ thể của nó.
“Ban đầu tôi sợ con rắn sẽ nuốt chửng chú ếch xinh đẹp, nhưng nhân viên vườn thú nói con rắn không ăn thịt con ếch và cuộc sống của nó cũng chẳng xáo trộn bởi sự hiện diện của ếch”, một du khách 39 tuổi nói khi ông tham quan vườn thú ở Jakarta, Indonesia.
Ếch mở to đôi mắt và nhìn chăm chăm vào màn hình máy ảnh như thể nó muốn khoe cuộc phưu lưu mạo hiểm trên cơ thể của loài bò sát đang treo lơ lửng trên cây.
Trong khi cơ thể con rắn uốn lượn xung quanh các cành của một cây dừa, ếch lặng lẽ bám trên da của nó.
Thứ Hai, 16 tháng 6, 2014
Bắt được cá mập “ngoài hành tinh” cực hiếm
Ngư dân đã bắt được một con cá mập miệng rộng (megamouth shark) ở khoài khơi bờ biển Nhật. Đây là con thứ 58 được tìm thấy từ xưa đến nay trên thế giới.
Con cá mập miệng rộng này đã sa lưới ngư dân Nhật vào tháng trước. Sau đó, nó được đưa vào trưng bày tại Bảo tàng Khoa học biển tại thành phố Shizuoka. Đây là một con cá cái với trọng lượng gần 1,5 tấn và chiều dài 4m. Tờ nhật báo Japan Daily Press đưa tin hôm 8/5, các nhà khoa học tại bảo tang đã thực hiện mổ khám nghiệm xác con vật này.
Cá mập miệng rộng được mệnh danh là “cá mập ngoài hành tinh” bởi phần đầu kỳ dị của nó. Đây được coi là một trong những loài cá quý hiếm nhất trên thế giới, chỉ mới được phát hiện ở một số vùng biển như California, Nhật Bản, Đài Loan, Indonesia, Brazil, Ecuador, Senegal, Nam Phi , Mexico và Úc… Theo bảo tàng Lịch sử tự nhiên Florida, cá mập miệng rộng thường sinh sống ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.
Loài cá mập này cũng giống như cá mập voi (whale sharks) và cá nhám phơi nắng (basking shark), phân bố trên diện rộng. Tuy nhiên, nó là loài ít hoạt động và khả năng bơi lội kém hơn so với 2 loài kia. Ban ngày, nó ở dưới vùng nước sâu, chỉ đến đêm mới nổi lên gần mặt nước để săn mồi. Thức ăn của chúng chủ yếu là các sinh vật phù du, nhuyễn thể.
Kể từ lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1976, đến nay chỉ có 58 con cá mập miệng rộng được tìm thấy. Năm 2009, ngư dân tỉnh Sorsogon, Philippines vô tình bắt được con cá mập miệng rộng nhưng sau đó đã họ đã xẻ thịt và ăn nó.
Con cá mập miệng rộng này đã sa lưới ngư dân Nhật vào tháng trước. Sau đó, nó được đưa vào trưng bày tại Bảo tàng Khoa học biển tại thành phố Shizuoka. Đây là một con cá cái với trọng lượng gần 1,5 tấn và chiều dài 4m. Tờ nhật báo Japan Daily Press đưa tin hôm 8/5, các nhà khoa học tại bảo tang đã thực hiện mổ khám nghiệm xác con vật này.
Cá mập miệng rộng được mệnh danh là “cá mập ngoài hành tinh” bởi phần đầu kỳ dị của nó. Đây được coi là một trong những loài cá quý hiếm nhất trên thế giới, chỉ mới được phát hiện ở một số vùng biển như California, Nhật Bản, Đài Loan, Indonesia, Brazil, Ecuador, Senegal, Nam Phi , Mexico và Úc… Theo bảo tàng Lịch sử tự nhiên Florida, cá mập miệng rộng thường sinh sống ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.
Loài cá mập này cũng giống như cá mập voi (whale sharks) và cá nhám phơi nắng (basking shark), phân bố trên diện rộng. Tuy nhiên, nó là loài ít hoạt động và khả năng bơi lội kém hơn so với 2 loài kia. Ban ngày, nó ở dưới vùng nước sâu, chỉ đến đêm mới nổi lên gần mặt nước để săn mồi. Thức ăn của chúng chủ yếu là các sinh vật phù du, nhuyễn thể.
Kể từ lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1976, đến nay chỉ có 58 con cá mập miệng rộng được tìm thấy. Năm 2009, ngư dân tỉnh Sorsogon, Philippines vô tình bắt được con cá mập miệng rộng nhưng sau đó đã họ đã xẻ thịt và ăn nó.
Những sinh vật biển kỳ lạ, dễ thương
Hẳn bạn sẽ ngỡ ngàng trước dáng vẻ đặc biệt vừa đáng yêu, vừa đáng sợ của các loài sinh vật biển: mực mỏ heo, sứa velella...
Khi nghĩ tới biển cả, chúng ta thường hình dung ra các sinh vật như những cá voi, cá heo hay những loài động vật bình thường khác. Tuy nhiên, đại dương bao la ẩn chứa rất nhiều điều kỳ thú mà chúng ta chưa khám phá hết được.
Bên cạnh những sinh vật đẹp đẽ đến mê hồn cũng tồn tại những loài vật có hình thù đáng sợ. Mỗi loài mang nhiều đặc điểm riêng biệt khiến cho biển cả luôn là đề tài thu hút các nhà sinh vật học cũng như các nhà thám hiểm lưu tâm.
Dưới đây là một số những sinh vật biển mà rất có thể bạn chưa từng được biết tới.
Cơ thể chúng được cấu tạo từ một chiếc phễu lớn với những chiếc vây có chức năng như mái chèo nhỏ. Ngoài ra, phía trên mắt loài mực này còn có các xúc tu nhỏ trong giống như những lọn tóc.
Những chú mực đã trưởng thành trong quan hệ tình dục sẽ bị mất một vài xúc tu và chuyển dần sang màu đỏ. Trong chiếc phễu lớn của nó - hay chính là phần thân có chứa một miếng đệm giống như sống lưng.
Ba nhú trồi lên chính là các cơ quan nội tạng. Bên cạnh đó, mực mỏ heo còn có cơ quan phát sáng nằm sau đôi mắt to, giúp di chuyển thuận lợi trong điều kiện tối như hũ nút.
Hiện tại, các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục tìm hiểu kỹ hơn về loài mực có hình dạng đáng yêu này. Điều đặc biệt nhất khiến mực mỏ heo khác so với những loài mực khác đó là chúng bơi khi cơ thể đang lộn ngược.
P.chilensis khoác lên mình một lớp vỏ dày cấu tạo bởi xenlulo - một kết cấu ma trận phân tử vững chắc giúp cho chúng có thể gắn nội tạng của mình vào bề mặt bên trong.
Nhưng không chỉ có lớp vỏ thô cứng, phần bên trong của lớp áo giáp này còn được đệm lót bằng một lớp biểu bì và những múi cơ. Phần chính của P.chilensis nằm ở phía trong cùng.
P.chilensis thường được tìm thấy ở các bãi đất nhô lên khi thuỷ triều xuống tại Chile và Peru. Cơ thể chúng có 2 ống xi-phông kết nối với môi trường biển bên ngoài, một để hít vào và một để thở ra.
Chúng hấp thụ thức ăn bằng cách hít nước vào, lọc ra các vi tảo có thể ăn được thông qua lối họng có chứa chất nhày, sau đó thở lại nước ra biển bằng ống xi-phông còn lại.
P. chilensis sinh ra đã là con đực sau đó ở tuổi dậy thì sẽ trở thành lưỡng tính và sinh sản bằng cách ném những “đám mây tinh trùng và trứng” thả trôi vào vùng nước xung quanh.
Tuy nhiên, câu hỏi tại sao và làm thế nào loài động vật này có thể tích luỹ một khối lượng lớn vanadi đến thế vẫn chưa có nhà khoa học nào giải thích được.
Trên các bãi biển của Chile, P. chilensis bị đánh bắt rất nhiều và trở thành một loại thức ăn chủ yếu. Ngư dân thường dùng cưa tay cắt P.chilensis thành các lát mỏng, sau đó dùng ngón tay tách lấy phần thịt ra khỏi vỏ. Thịt của chúng có thể bán tươi sống hoặc đóng hộp để xuất khẩu.
Một velella trưởng thành có độ dài không quá 7cm, cơ thể thường có màu xanh đậm, trong suốt giống như chiếc giấy bóng kính với cánh buồm cứng nhỏ ở phía trên giúp nó đón gió và di chuyển trên mặt biển.
Sứa Velella là loài vật ăn thịt. Chúng săn sinh vật phù du bằng những xúc tu chứa chất độc. Mặc dù những chất độc này có thể làm hại đến con mồi nhưng hầu như không ảnh hưởng đến con người bởi chúng không thể đi qua da.
Velella Velella sinh sống tại vùng nước ấm và ôn đới ở tất cả các đại dương trên toàn thế giới. Nó không bao giờ chạm hoặc thậm chí là đến gần đáy đại dương, giai đoạn duy nhất Velella chìm hẳn xuống nước là giai đoạn ấu trùng mà thôi.
Đúng như cái tên, điểm đặc biệt dễ nhận thấy nhất của loài giun này đó là hai “chiếc vương miện” giống như 2 cây thông Giáng sinh. Những cây thông này có nhiệm vụ vận chuyển bất cứ sinh vật nào mắc kẹt trong đó vào... miệng con giun.
Ngoài ra, đây còn là cơ quan hô hấp của chúng, làm việc giống như “mang”. Giống như các loài giun khác, Spirobranchus giganteus có cơ thể hình ống, viền xung quanh bao phủ nhiều lông và các chi rất nhỏ giúp chúng có thể di chuyển được trên rạn san hô.
Tuy nhiên, con giun này rất ít vận động, có nghĩa là một khi đã tìm được địa điểm ưa thích, nó sẽ không di chuyển nhiều nữa. Khi bị giật mình, những cây thông giáng sinh này cũng có thể nhanh chóng rút vào hốc của các rạn san hô để lẩn tránh mối nguy hiểm.
Khi nghĩ tới biển cả, chúng ta thường hình dung ra các sinh vật như những cá voi, cá heo hay những loài động vật bình thường khác. Tuy nhiên, đại dương bao la ẩn chứa rất nhiều điều kỳ thú mà chúng ta chưa khám phá hết được.
Bên cạnh những sinh vật đẹp đẽ đến mê hồn cũng tồn tại những loài vật có hình thù đáng sợ. Mỗi loài mang nhiều đặc điểm riêng biệt khiến cho biển cả luôn là đề tài thu hút các nhà sinh vật học cũng như các nhà thám hiểm lưu tâm.
Dưới đây là một số những sinh vật biển mà rất có thể bạn chưa từng được biết tới.
1. Mực mỏ heo
Mực mỏ heo là một loài mực nhỏ thuộc giống Helicocranchia, sống gần bề mặt đại dương ở độ sâu từ 100 - 200m. Kích thước trung bình của một chú mực mỏ heo trưởng thành khoảng 100mm.Cơ thể chúng được cấu tạo từ một chiếc phễu lớn với những chiếc vây có chức năng như mái chèo nhỏ. Ngoài ra, phía trên mắt loài mực này còn có các xúc tu nhỏ trong giống như những lọn tóc.
Những chú mực đã trưởng thành trong quan hệ tình dục sẽ bị mất một vài xúc tu và chuyển dần sang màu đỏ. Trong chiếc phễu lớn của nó - hay chính là phần thân có chứa một miếng đệm giống như sống lưng.
Ba nhú trồi lên chính là các cơ quan nội tạng. Bên cạnh đó, mực mỏ heo còn có cơ quan phát sáng nằm sau đôi mắt to, giúp di chuyển thuận lợi trong điều kiện tối như hũ nút.
Hiện tại, các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục tìm hiểu kỹ hơn về loài mực có hình dạng đáng yêu này. Điều đặc biệt nhất khiến mực mỏ heo khác so với những loài mực khác đó là chúng bơi khi cơ thể đang lộn ngược.
2. Pyura chilensis
Pyura chilensis là loài động vật biển có vỏ được tìm ra bởi Juan Ignacio Molina vào năm 1782. Chúng thuộc lớp Ascidiacea - loài sinh vật không xương sống và không di chuyển được.P.chilensis khoác lên mình một lớp vỏ dày cấu tạo bởi xenlulo - một kết cấu ma trận phân tử vững chắc giúp cho chúng có thể gắn nội tạng của mình vào bề mặt bên trong.
Nhưng không chỉ có lớp vỏ thô cứng, phần bên trong của lớp áo giáp này còn được đệm lót bằng một lớp biểu bì và những múi cơ. Phần chính của P.chilensis nằm ở phía trong cùng.
P.chilensis thường được tìm thấy ở các bãi đất nhô lên khi thuỷ triều xuống tại Chile và Peru. Cơ thể chúng có 2 ống xi-phông kết nối với môi trường biển bên ngoài, một để hít vào và một để thở ra.
Chúng hấp thụ thức ăn bằng cách hít nước vào, lọc ra các vi tảo có thể ăn được thông qua lối họng có chứa chất nhày, sau đó thở lại nước ra biển bằng ống xi-phông còn lại.
P. chilensis sinh ra đã là con đực sau đó ở tuổi dậy thì sẽ trở thành lưỡng tính và sinh sản bằng cách ném những “đám mây tinh trùng và trứng” thả trôi vào vùng nước xung quanh.
Nếu sự va chạm giữa trứng và tinh trùng thành công, nòng nọc sẽ xuất hiện và cuối cùng “định cư” vào trong một tảng đá nào đó để phát triển thành con trưởng thành.
Máu của P.chilensis rất tinh khiết nhưng chứa nồng độ rất cao nguyên tố hóa học bí ẩn và hiếm có tên gọi là vanadi. Nồng độ này có thể gấp 10 triệu lần so với mức được tìm thấy trong nước biển. Tuy nhiên, câu hỏi tại sao và làm thế nào loài động vật này có thể tích luỹ một khối lượng lớn vanadi đến thế vẫn chưa có nhà khoa học nào giải thích được.
Trên các bãi biển của Chile, P. chilensis bị đánh bắt rất nhiều và trở thành một loại thức ăn chủ yếu. Ngư dân thường dùng cưa tay cắt P.chilensis thành các lát mỏng, sau đó dùng ngón tay tách lấy phần thịt ra khỏi vỏ. Thịt của chúng có thể bán tươi sống hoặc đóng hộp để xuất khẩu.
3. Sứa velella
Sứa velella (tên khoa học là Velella Velella) là một chi của thủy tức, sống trôi nổi trên bề mặt đại dương. Chúng còn có tên khác như “chiếc bè trên biển”, “cánh buồm nhỏ”...Một velella trưởng thành có độ dài không quá 7cm, cơ thể thường có màu xanh đậm, trong suốt giống như chiếc giấy bóng kính với cánh buồm cứng nhỏ ở phía trên giúp nó đón gió và di chuyển trên mặt biển.
Sứa Velella là loài vật ăn thịt. Chúng săn sinh vật phù du bằng những xúc tu chứa chất độc. Mặc dù những chất độc này có thể làm hại đến con mồi nhưng hầu như không ảnh hưởng đến con người bởi chúng không thể đi qua da.
Velella Velella sinh sống tại vùng nước ấm và ôn đới ở tất cả các đại dương trên toàn thế giới. Nó không bao giờ chạm hoặc thậm chí là đến gần đáy đại dương, giai đoạn duy nhất Velella chìm hẳn xuống nước là giai đoạn ấu trùng mà thôi.
4. Giun cây thông giáng sinh (Christmas tree worm)
Loài giun này có tên khoa học là Spirobranchus giganteus, phân bố rộng rãi khắp các đại dương nhiệt đới trên thế giới, từ vùng biển Caribbean cho đến Ấn Độ - Thái Bình Dương. Chúng thường được tìm thấy khi "cắm đầu" vào các rạn san hô lớn dưới đáy biển.Đúng như cái tên, điểm đặc biệt dễ nhận thấy nhất của loài giun này đó là hai “chiếc vương miện” giống như 2 cây thông Giáng sinh. Những cây thông này có nhiệm vụ vận chuyển bất cứ sinh vật nào mắc kẹt trong đó vào... miệng con giun.
Ngoài ra, đây còn là cơ quan hô hấp của chúng, làm việc giống như “mang”. Giống như các loài giun khác, Spirobranchus giganteus có cơ thể hình ống, viền xung quanh bao phủ nhiều lông và các chi rất nhỏ giúp chúng có thể di chuyển được trên rạn san hô.
Tuy nhiên, con giun này rất ít vận động, có nghĩa là một khi đã tìm được địa điểm ưa thích, nó sẽ không di chuyển nhiều nữa. Khi bị giật mình, những cây thông giáng sinh này cũng có thể nhanh chóng rút vào hốc của các rạn san hô để lẩn tránh mối nguy hiểm.
Cá mập lớn ăn cá mập nhỏ
Trong một phiên bản tự nhiên của phim hành động Hollywood, một con cá mập trắng lớn đã bị tiêu diệt dưới hàm của đồng loại to xác hơn.
Không lâu sau khi các nhà sinh vật biển Úc gắn thiết bị theo dõi lên một vài con cá mập trắng lớn, họ phát hiện một trong các thiết bị đã dạt vào bờ biển.
Thiết bị này đã cung cấp một số cảnh tượng đẫm máu cuối cùng của nạn nhân, và dựa trên chứng cứ thu được, cá mập trắng lớn đeo thiết bị đã bị một con vật khổng lồ tiếp cận và xé xác.
Nhưng loài nào có thể giết chết và ăn thịt một con cá mập trắng lớn dài gần 3m? Một con quái vật biển sâu bí ẩn chăng?
Giờ đây, tài liệu mới lập luận rằng câu trả lời hợp lý nhất là cá mập trên đã trở thành mồi ngon của con cá mập khác, theo tư liệu đã được tải lên YouTube.
Tài liệu, có tựa đề là Săn lùng siêu dã thú, do Viện Smithsonian (Mỹ) và đài ABC của Úc hợp tác thực hiện, ghi lại các dữ liệu có trên thiết bị theo dõi cá mập và ủng hộ giả thuyết cá mập ăn cá mập.
Các chuyên gia ước tính kẻ săn mồi phải dài đến 5m, nặng hơn 2 tấn.
Không lâu sau khi các nhà sinh vật biển Úc gắn thiết bị theo dõi lên một vài con cá mập trắng lớn, họ phát hiện một trong các thiết bị đã dạt vào bờ biển.
Thiết bị này đã cung cấp một số cảnh tượng đẫm máu cuối cùng của nạn nhân, và dựa trên chứng cứ thu được, cá mập trắng lớn đeo thiết bị đã bị một con vật khổng lồ tiếp cận và xé xác.
Nhưng loài nào có thể giết chết và ăn thịt một con cá mập trắng lớn dài gần 3m? Một con quái vật biển sâu bí ẩn chăng?
Giờ đây, tài liệu mới lập luận rằng câu trả lời hợp lý nhất là cá mập trên đã trở thành mồi ngon của con cá mập khác, theo tư liệu đã được tải lên YouTube.
Tài liệu, có tựa đề là Săn lùng siêu dã thú, do Viện Smithsonian (Mỹ) và đài ABC của Úc hợp tác thực hiện, ghi lại các dữ liệu có trên thiết bị theo dõi cá mập và ủng hộ giả thuyết cá mập ăn cá mập.
Các chuyên gia ước tính kẻ săn mồi phải dài đến 5m, nặng hơn 2 tấn.
Loài cá nhỏ hút được vật nặng gấp 300 lần
Bộ phận dính nhỏ trên cơ thể giúp cá clingfish dễ dàng bám lên các bề mặt, thậm chí hút được các vật nặng có trọng lượng lớn hơn nó hàng trăm lần.
Cá clingfish là một loài cá nước mặn, có nguồn gốc từ vùng biển Thái Bình Dương ở Bắc Mỹ. Chúng thường sống ở môi trường bãi triều, tức dải hẹp nằm giữa biển và đất liền. Thủy triều lên xuống có thể cuốn trôi cá và sinh vật biển, nếu chúng không bám vào các tảng đá.
Để tồn tại trong môi trường tự nhiên, cá clingfish tiến hóa một bộ phận dính nhỏ bao quanh phần bụng, giúp chúng dễ dàng bám vào các bề mặt đá. Bộ phận này được hình thành từ các vây ức và khung xương, tạo thành hình đĩa, xung quanh rìa cấu trúc này là các hình lục giác, có dạng dẹt khi nhìn bằng mắt thường. Tuy nhiên, khi nhìn dưới kính hiển vi điện tử, đỉnh của mỗi hình lục giác là các sợi tóc mảnh, dải, tương tự như sợi lông ở chân của bọ cánh cứng hay nhện.
Với đặc điểm này, cá clingfish có thể dễ dàng bám và giữ các vật khác có trọng lượng lớn hơn cơ thể chúng, thậm chí là lớn hơn 300 lần. So với các thiết bị hay ống hút nhân tạo, chúng có thể bám trên hầu hết bề mặt và bám chắc hơn, trừ những bề mặt trơn hoàn toàn.
Odditycentral cho hay, ngoài lợi ích thích nghi với môi trường, đặc điểm này còn giúp cá clingfish dễ dàng bắt mồi là những con sao sao (limpet), loài động vật thân mềm thường bám chặt vào đá. Theo các chuyên gia, việc nghiên cứu loài cá này có thể giúp họ tạo ra các thiết bị hút nhân tạo mới và hiệu quả hơn.
Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014
Người Nhật phát sốt với cây anh đào "thần kỳ" từ vũ trụ
Một cây hoa anh đào bí ẩn đang khiến người Nhật Bản phát “sốt", đã thu hút sự chú ý của cả giới tu hành lẫn các nhà khoa học.
Cây anh đào này được mọc ra từ một hạt anh đào đã bay vòng quanh quỹ đạo Trái Đất trong vòng 9 tháng, sau đó hoa của cây anh đào này nở sớm hơn nhiều năm so với dự kiến, với những cánh hoa rất lạ khác hẳn với hoa anh đào thông thường.
Theo AFP, cây anh đào trên mới được bốn năm tuổi. Nó đã mọc lên từ một hạt anh đào được đưa lên Trạm vũ trụ quốc tế (ISS) và nở hoa trong ngày 1/4 vừa qua, trước sáu năm so với chu kỳ tự nhiên.
Việc cây này nở hoa sớm trong khu vườn của một tu viện cổ ở miền Trung Nhật Bản, đã khiến các nhà sư Phật giáo ở đây đã hết sức ngỡ ngàng.
Masahiro Kajita, vị sư phụ trách quản lý đền Ganjoji ở Gifu, cho AFP nói: "Chúng tôi kinh ngạc khi thấy cây lớn nhanh như thế. Nó sẽ thay thế cây anh đào mẹ, được cho là đã 1.250 tuổi".
Hạt giống thần kỳ trên nằm trong số 265 hạt anh đào được thu hoạch từ cây "Chujo-hime-seigan-zakura". Việc này nằm trong một dự án thu hoạch hạt của các cây anh đào trồng tại 14 địa điểm trên khắp Nhật Bản.
Các hạt anh đào được gửi lên ISS vào tháng 11/2008 và đã trở lại Trái Đất trong tháng Bảy năm sau đó cùng phi hành gia Nhật Bản Koichi Wakata, sau khi bay vòng quanh Trái Đất 4.100 lần.
Một số hạt anh đào đã được đưa tới các phòng thí nghiệm để phục vụ nghiên cứu. Nhưng phần lớn các hạt khác đã được chuyển trở lại nơi người ta thu hoạch chúng. Hạt giống thần kỳ trên đã được trồng trong vườn ươm gần đền Ganjoji.
Tới tháng Tư năm nay, "cây anh đào vũ trụ" nảy ra từ hạt giống đã cao tới 4m và đột nhiên nở ra 9 bông hoa. Mỗi bông hoa này chỉ có 5 cánh, rất đặc biệt so với các bông hoa có 30 cánh ở cây mẹ.
Thường phải mất 10 năm để cây anh đào có thể nở những bông hoa đầu tiên.
Đó là một dự án mang tính giáo dục và văn hóa nhằm khuyến khích trẻ em thu hoạch hạt anh đào và tìm hiểu xem người ta đã trồng hạt thành cây ra sao, sau khi các hạt giống được đưa trở về từ vũ trụ, Miho Tomioka, một phát ngôn viên của đơn vị đã đứng ra tổ chức dự án là Japan Manned Space Systems (JAMSS) cho biết.
Bà nói: "Chúng tôi đã hy vọng những cây anh đào đó bừng nở trong khoảng 10 năm sau khi được trồng, cũng là thời điểm những đứa trẻ trưởng thành".
Kaori Tomita-Yokotani, một nhà nghiên cứu ở Đại học Tsukuba, người đã tham gia vào dự án, cho AFP biết rằng bà cũng bất ngờ trước bí ẩn quanh cây anh đào trên. "Chúng tôi vẫn chưa thể loại bỏ khả năng hạt giống này đã chịu những tác động nhất định từ môi trường vũ trụ", bà nói.
Tomita-Yokotani, một chuyên gia thực vật, cho biết rất khó để giải thích vì sao cây anh đào trên lại lớn nhanh thế, bởi người ta không có các nhóm cây tương ứng để so sánh tốc độ tăng trưởng.
Bà nói rằng tình trạng lai giống với các loài cây khác cũng có thể khiến cây anh đào lớn nhanh đột biến. Tuy nhiên việc thiếu dữ liệu nghiên cứu khiến các nhà khoa học khó đưa ra câu trả lời thỏa đáng.
"Hiển nhiên vẫn có khả năng việc tiếp xúc với tia vũ trụ mạnh đã thúc đẩy tiến trình nảy mầm và tăng trưởng nói chung của cây Từ quan điểm khoa học, chúng tôi chỉ có thể nói rằng hoàn toàn không biết vì sao hiện tượng này lại xảy ra", bà nói.
Cây anh đào này được mọc ra từ một hạt anh đào đã bay vòng quanh quỹ đạo Trái Đất trong vòng 9 tháng, sau đó hoa của cây anh đào này nở sớm hơn nhiều năm so với dự kiến, với những cánh hoa rất lạ khác hẳn với hoa anh đào thông thường.
Theo AFP, cây anh đào trên mới được bốn năm tuổi. Nó đã mọc lên từ một hạt anh đào được đưa lên Trạm vũ trụ quốc tế (ISS) và nở hoa trong ngày 1/4 vừa qua, trước sáu năm so với chu kỳ tự nhiên.
Việc cây này nở hoa sớm trong khu vườn của một tu viện cổ ở miền Trung Nhật Bản, đã khiến các nhà sư Phật giáo ở đây đã hết sức ngỡ ngàng.
Masahiro Kajita, vị sư phụ trách quản lý đền Ganjoji ở Gifu, cho AFP nói: "Chúng tôi kinh ngạc khi thấy cây lớn nhanh như thế. Nó sẽ thay thế cây anh đào mẹ, được cho là đã 1.250 tuổi".
Hạt giống thần kỳ trên nằm trong số 265 hạt anh đào được thu hoạch từ cây "Chujo-hime-seigan-zakura". Việc này nằm trong một dự án thu hoạch hạt của các cây anh đào trồng tại 14 địa điểm trên khắp Nhật Bản.
Các hạt anh đào được gửi lên ISS vào tháng 11/2008 và đã trở lại Trái Đất trong tháng Bảy năm sau đó cùng phi hành gia Nhật Bản Koichi Wakata, sau khi bay vòng quanh Trái Đất 4.100 lần.
Một số hạt anh đào đã được đưa tới các phòng thí nghiệm để phục vụ nghiên cứu. Nhưng phần lớn các hạt khác đã được chuyển trở lại nơi người ta thu hoạch chúng. Hạt giống thần kỳ trên đã được trồng trong vườn ươm gần đền Ganjoji.
Tới tháng Tư năm nay, "cây anh đào vũ trụ" nảy ra từ hạt giống đã cao tới 4m và đột nhiên nở ra 9 bông hoa. Mỗi bông hoa này chỉ có 5 cánh, rất đặc biệt so với các bông hoa có 30 cánh ở cây mẹ.
Thường phải mất 10 năm để cây anh đào có thể nở những bông hoa đầu tiên.
Tác động của tia vũ trụ?
Đó là một dự án mang tính giáo dục và văn hóa nhằm khuyến khích trẻ em thu hoạch hạt anh đào và tìm hiểu xem người ta đã trồng hạt thành cây ra sao, sau khi các hạt giống được đưa trở về từ vũ trụ, Miho Tomioka, một phát ngôn viên của đơn vị đã đứng ra tổ chức dự án là Japan Manned Space Systems (JAMSS) cho biết.
Bà nói: "Chúng tôi đã hy vọng những cây anh đào đó bừng nở trong khoảng 10 năm sau khi được trồng, cũng là thời điểm những đứa trẻ trưởng thành".
Kaori Tomita-Yokotani, một nhà nghiên cứu ở Đại học Tsukuba, người đã tham gia vào dự án, cho AFP biết rằng bà cũng bất ngờ trước bí ẩn quanh cây anh đào trên. "Chúng tôi vẫn chưa thể loại bỏ khả năng hạt giống này đã chịu những tác động nhất định từ môi trường vũ trụ", bà nói.
Tomita-Yokotani, một chuyên gia thực vật, cho biết rất khó để giải thích vì sao cây anh đào trên lại lớn nhanh thế, bởi người ta không có các nhóm cây tương ứng để so sánh tốc độ tăng trưởng.
Bà nói rằng tình trạng lai giống với các loài cây khác cũng có thể khiến cây anh đào lớn nhanh đột biến. Tuy nhiên việc thiếu dữ liệu nghiên cứu khiến các nhà khoa học khó đưa ra câu trả lời thỏa đáng.
"Hiển nhiên vẫn có khả năng việc tiếp xúc với tia vũ trụ mạnh đã thúc đẩy tiến trình nảy mầm và tăng trưởng nói chung của cây Từ quan điểm khoa học, chúng tôi chỉ có thể nói rằng hoàn toàn không biết vì sao hiện tượng này lại xảy ra", bà nói.
Phát hiện loài thực vật thuộc họ trúc đào
Giới khoa học vừa công bố loài Cẩm cù hạnh được phát hiện ở gần biển Quảng Bình và Nha Trang.
Dạng hoa màu hồng của Cẩm cù hạnh Hoya hanhiae. (Ảnh: NguyễnThuý Hạnh/VnCreatures)
Loài mới có tên khoa học là Hoya hanhiae, được đặt theo tên của bà Nguyễn Thúy Hạnh, người có công phát hiện, thu mẫu. Công bố này đã nâng tổng số các loài Cẩm cù của Việt Nam mọc tự nhiên lên 25 loài.
Cẩm cù hạnh là loài sống phụ sinh trên các thân cây già. Chúng có các rễ bám mọc ra từ các đốt thân và có thể dài đến 5m. Hoa của chúng có nhiều dạng màu sắc, nhưng màu phổ biến nhất là màu hồng và vàng, theo VnCreatures.
Cẩm cù hạnh phân bố tại các khu vực gần biển ở Quảng Trị và Nha Trang. Chúng nở hoa vào mùa hè, từ tháng 6 đến tháng 8 dương lịch. Hoa của chúng rất thơm. Vào ban đêm hoa thường đóng lại sau đó mở ra vào sáng hôm sau.
Từ hỗn loạn thành trật tự: Kiến tìm thức ăn như thế nào?
Loài kiến có tài chiến lược giải quyết các vấn đề phức tạp, điều này có thể áp dụng rộng rãi như là các kĩ thuật tối ưu hóa. Một con kiến riêng lẻ đi lang thang để tìm kiếm thức ăn theo một cách ngẫu nhiên, các nhà sinh vật học phát hiện thấy điều này.
Tuy nhiên, hành vi kiếm ăn tập thể của đàn kiến lại không như vậy, như một nghiên cứu toán học được trình bày trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences cho thấy: Các chuyển động của loài kiến tại một điểm nhất định thay đổi từ hỗn độn thành trật tự. Điều này xảy ra theo cách tự tổ chức hiệu quả một cách đáng ngạc nhiên. Sự hiểu biết về kiến có thể giúp phân tích các hiện tượng tương tự.
“Loài kiến có một chiếc tổ và vì vậy chúng cần thứ gì đó giống như một chiến lược để mang thức ăn mà chúng tìm thấy về tổ”, tác giả chính của nghiên cứu, Lixiang Li, người kết nối chặt chẽ với cả trung tâm bảo mật thông tin Information Security Center, phòng thí nghiệm State Key Laboratory về công nghệ mạng lưới và chuyển mạch (State Key Laboratory of Networking and Switching Technology) tại Posts and Communications thuộc trường Đại học Bắc Kinh và với Viện nghiên cứu về tác động môi trường Potsdam (Potsdam Institute for Climate Impact Research) nói.
“Chúng tôi cho rằng đây là một nhân tố, đến nay bị đánh giá thấp, thực sự xác định hành vi của kiến”.
Những con kiến khác sẽ đi theo con đường được đánh dấu bởi mùi hương đó để tìm thức ăn và mang một ít về tổ. Tuy nhiên, do còn quá ít pheromone đã đánh dấu trên đường nên đàn kiến còn thưa thớt. Do đó, những con kiến đi theo đường đã được đánh dấu lại tiếp tục tiết ra pheromone để đánh dấu. Điều này dẫn tới một sự tối ưu hóa của đoạn đường dẫn đến chỗ có thức ăn: Khi các kích thích tố bay hơi, mùi hương càng mạnh hơn thì đoạn đường là ngắn hơn – vì vậy mà nhiều con kiến đi theo đường ngắn nhất, tiếp tục để lại dấu vết mùi kích thích tố. Điều này sinh ra một hiệu ứng tự củng cố hiệu quả - những con kiến ít bị lãng phí thời gian hơn là chúng cứ tiếp tục tìm kiếm thức ăn trong hỗn loạn.
Quan trọng hơn, các nhà nghiên cứu phát hiện thấy kinh nghiệm của từng cá thể kiến cũng góp phần vào thành công khi tìm kiếm thức ăn của chúng - một cái gì đó cũng bị bỏ quên trong nghiên cứu trước đây. Những con kiến già hơn có một hiểu biết tốt hơn về môi trường xung quanh các tổ. Sự tìm kiếm thức ăn của những con kiến trẻ hơn là một quá trình học tập chứ không phải là một sự đóng góp hiệu quả để tìm thực phẩm, theo nghiên cứu này cho biết.
"Trong khi một con kiến đơn độc chắc chắn là không thông minh, các hành vi tập thể của đàn kiến có thể gọi là thông minh”, đồng tác giả của nghiên cứu Jürgen Kurths, người dẫn đầu nghiên cứu Transdisciplinary Concepts and Methods của PIK nói. “Nguyên tắc tự tổ chức được biết đến như trong đàn cá chẳng hạn, nhưng đây là hành trình về tổ, điều đó làm cho lũ kiến thật thú vị”. Trong khi nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thức ăn của kiến chắc chắn có tầm quan trọng sinh thái, các tác giả của nghiên cứu này chủ yếu quan tâm đến sự hiểu biết các mô hình cơ bản của hiện tượng phi tuyến. "Những con kiến hình thành một mạng lưới phức tạp có hiệu quả cao", Kurths giải thích. "Và đây là cái mà chúng ta thấy trong nhiều hệ thống tự nhiên và xã hội".
Vì vậy, các mô hình toán học phát triển trong nghiên cứu kiến được áp dụng không chỉ đối với các loại động vật khác nhau có cùng đặc điểm rằng chúng có một tổ để quay về, ví dụ như chim hải âu lớn. Nghiên cứu này cũng cung cấp một cái nhìn mới về mô hình hành vi của con người trong các lĩnh vực đa dạng như sự phát triển của các dịch vụ mạng lưới và hệ thống giao thông thông minh.
Tuy nhiên, hành vi kiếm ăn tập thể của đàn kiến lại không như vậy, như một nghiên cứu toán học được trình bày trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences cho thấy: Các chuyển động của loài kiến tại một điểm nhất định thay đổi từ hỗn độn thành trật tự. Điều này xảy ra theo cách tự tổ chức hiệu quả một cách đáng ngạc nhiên. Sự hiểu biết về kiến có thể giúp phân tích các hiện tượng tương tự.
“Loài kiến có một chiếc tổ và vì vậy chúng cần thứ gì đó giống như một chiến lược để mang thức ăn mà chúng tìm thấy về tổ”, tác giả chính của nghiên cứu, Lixiang Li, người kết nối chặt chẽ với cả trung tâm bảo mật thông tin Information Security Center, phòng thí nghiệm State Key Laboratory về công nghệ mạng lưới và chuyển mạch (State Key Laboratory of Networking and Switching Technology) tại Posts and Communications thuộc trường Đại học Bắc Kinh và với Viện nghiên cứu về tác động môi trường Potsdam (Potsdam Institute for Climate Impact Research) nói.
“Chúng tôi cho rằng đây là một nhân tố, đến nay bị đánh giá thấp, thực sự xác định hành vi của kiến”.
Để lại một dấu vết mùi
Nhóm nghiên cứu Trung Quốc - Đức về cơ bản đã đưa hầu như tất cả các thông tin đã biết về cách tìm kiếm thức ăn của kiến vào phương trình và các thuật toán và nạp vào các máy tính của họ. Họ cho rằng, có ba giai đoạn trong quá trình di chuyển tìm kiếm thức ăn phức tạp của một đàn kiến: Ban đầu, kiến trinh sát thực sự bò loanh quanh một cách hỗn loạn. Khi kiệt sức, nó quay trở lại tổ để ăn uống và nghỉ ngơi. Tuy nhiên, khi một trong số kiến trinh sát tìm thấy các thức ăn trong vùng lân cận xung quanh tổ, nó sẽ mang một mảnh nhỏ thức ăn về tổ, để lại một mùi hương gọi là các kích thích tố (pheromone).Những con kiến khác sẽ đi theo con đường được đánh dấu bởi mùi hương đó để tìm thức ăn và mang một ít về tổ. Tuy nhiên, do còn quá ít pheromone đã đánh dấu trên đường nên đàn kiến còn thưa thớt. Do đó, những con kiến đi theo đường đã được đánh dấu lại tiếp tục tiết ra pheromone để đánh dấu. Điều này dẫn tới một sự tối ưu hóa của đoạn đường dẫn đến chỗ có thức ăn: Khi các kích thích tố bay hơi, mùi hương càng mạnh hơn thì đoạn đường là ngắn hơn – vì vậy mà nhiều con kiến đi theo đường ngắn nhất, tiếp tục để lại dấu vết mùi kích thích tố. Điều này sinh ra một hiệu ứng tự củng cố hiệu quả - những con kiến ít bị lãng phí thời gian hơn là chúng cứ tiếp tục tìm kiếm thức ăn trong hỗn loạn.
Quan trọng hơn, các nhà nghiên cứu phát hiện thấy kinh nghiệm của từng cá thể kiến cũng góp phần vào thành công khi tìm kiếm thức ăn của chúng - một cái gì đó cũng bị bỏ quên trong nghiên cứu trước đây. Những con kiến già hơn có một hiểu biết tốt hơn về môi trường xung quanh các tổ. Sự tìm kiếm thức ăn của những con kiến trẻ hơn là một quá trình học tập chứ không phải là một sự đóng góp hiệu quả để tìm thực phẩm, theo nghiên cứu này cho biết.
Một mạng lưới phức tạp hiệu quả cao
"Trong khi một con kiến đơn độc chắc chắn là không thông minh, các hành vi tập thể của đàn kiến có thể gọi là thông minh”, đồng tác giả của nghiên cứu Jürgen Kurths, người dẫn đầu nghiên cứu Transdisciplinary Concepts and Methods của PIK nói. “Nguyên tắc tự tổ chức được biết đến như trong đàn cá chẳng hạn, nhưng đây là hành trình về tổ, điều đó làm cho lũ kiến thật thú vị”. Trong khi nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thức ăn của kiến chắc chắn có tầm quan trọng sinh thái, các tác giả của nghiên cứu này chủ yếu quan tâm đến sự hiểu biết các mô hình cơ bản của hiện tượng phi tuyến. "Những con kiến hình thành một mạng lưới phức tạp có hiệu quả cao", Kurths giải thích. "Và đây là cái mà chúng ta thấy trong nhiều hệ thống tự nhiên và xã hội".
Vì vậy, các mô hình toán học phát triển trong nghiên cứu kiến được áp dụng không chỉ đối với các loại động vật khác nhau có cùng đặc điểm rằng chúng có một tổ để quay về, ví dụ như chim hải âu lớn. Nghiên cứu này cũng cung cấp một cái nhìn mới về mô hình hành vi của con người trong các lĩnh vực đa dạng như sự phát triển của các dịch vụ mạng lưới và hệ thống giao thông thông minh.
Phát hiện loài nhện biết biến hình thành phân chim
Các nhà nghiên cứu vô cùng bất ngờ khi phát hiện ra loài nhện với khả năng ngụy trang độc đáo có 1-0-2 này.
Các nhà nghiên cứu thuộc ĐH Quốc gia Chung-Hsin và Viện nghiên cứu đặc hữu loài Đài Loan mới đây đã phát hiện ra một loài nhện có khả năng vô cùng kỳ lạ, đó là có thể cải trang thành... phân chim.
Biến hình thành phân chim sẽ giúp nhện thoát khỏi tầm ngắm bị ăn thịt bởi những kẻ săn mồi như chim và ong bắp cày.
Nhà nghiên cứu Min Hui Lui và đồng nghiệp vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra loài nhện độc đáo với tên khoa học là Cyclosa ginnaga này. Ông cho biết: "Đây là một trong những loài nhện có khả năng ngụy trang độc đáo và hiệu quả trong thế giới loài vật. Thân hình của nó phủ đầy mấu gai như mụn nhọt, biến nó trông giống một cục phân chim. Ngoài ra, nó cũng toát ra mùi khó chịu".
Các chuyên gia giải thích, sự ngụy trang này giúp loài nhện biến hình thành một vật không có ý nghĩa gì trong mắt động vật ăn thịt - cục phân chim - cũng như để che giấu thân phận thật nhằm tránh kẻ thù.
Loài nhện Cyclosa ginnaga trước...
...và sau khi biến hình.
Những nhà nghiên cứu đã tiến hành một cuộc thử nghiệm bằng cách giám sát những gì sẽ xảy ra khi đặt một chú nhện có biệt tài này cùng những chú nhện khác giữa bầy ong bắp cày. Kết quả chỉ ra, những chú nhện thường lập tức trở thành con mồi của ong bắp cày, còn nhện Cyclosa ginnaga thì được bỏ qua.
Không chỉ có khả năng ngụy trang, loài nhện này còn biết tỏa hương thu hút các loài sâu bọ "thích phân" đến gần nó. Hiện các nhà nghiên cứu đang tiếp tục nghiên cứu để hiểu hơn về tập tính sinh hoạt của loài nhện này.
Nọc độc nhện có thể trở thành cứu tinh của loài ong
Theo nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Proceedings of the Royal Society B số ra ngày 4/6, nọc độc từ một trong những loài nhện độc nhất thế giới có thể trở thành thuốc trừ sâu sinh học giết sâu bọ gây hại, nhưng không ảnh hưởng tới ong - một trong những "chuyên gia" thụ phấn cho cây trồng.
Lâu nay, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhằm tìm ra nguyên nhân khiến số lượng ong, bao gồm cả ong hoang dã và ong nuôi, giảm ở châu Âu, châu Mỹ và châu Á, theo đó "thủ phạm" có thể là thuốc trừ sâu công nghiệp.
Năm 2013, Liên minh châu Âu (EU) đã ra lệnh cấm tạm thời một số loại thuốc trừ sâu sau khi các nhà khoa học cho hay các hóa chất được sử dụng để bảo vệ mùa màng hay tổ ong có thể xâm nhập vào não bộ của ong mật, tác động tới khả năng ghi nhớ và những kỹ năng định vị cần thiết để tìm kiếm thức ăn của ong.
Loài ong là chuyên gia thụ phấn cho cây trồng. (Ảnh: wikipedia.org)
Nhóm nghiên cứu, do Đại học Newcastle (Anh) đứng đầu, đã tìm ra một loại thuốc trừ sâu sinh học an toàn đối với ong, được chế tạo từ nọc độc của nhện mạng phễu Australia kết hợp với protein từ cây giọt tuyết.
Khi cho thử với liều cấp và lặp đi lặp lại, tức là cao hơn mức ong phải chịu trong các cánh đồng phun thuốc trừ sâu công nghiệp, loại thuốc trừ sâu sinh học từ nọc nhện kể trên chỉ ảnh hưởng không đáng kể tới sự tồn tại của ong cũng như khả năng ghi nhớ của loài thụ phấn này. Cả ong trưởng thành và ấu trùng ong đều không bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên, nhà khoa học Angharad Gatehouse, đồng tác giả nghiên cứu, nhận định rằng điều mà các nhà khoa học cũng như người nông dân cần hiện nay là một chiến lược kiểm soát sâu bọ tổng hợp, mà loại thuốc trừ sâu sinh học nói trên chỉ là một phần trong đó.
Thuốc trừ sâu sinh học được cho là hầu như không gây hại cho con người, mặc dù có lượng độc tố cao đối với một số loài sâu bọ chủ yếu.
Ong "đảm đương" tới 80% hoạt động thụ phấn cho các loại cây thụ phấn nhờ côn trùng. Nếu không có loài ong, nhiều vụ mùa sẽ không thể ra quả, hoặc con người phải thụ phấn bằng tay.
Theo số liệu của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO), các loài thụ phấn đóng góp ít nhất 70% vụ thu hoạch lương thực chính của con người. Giá trị kinh tế của các dịch vụ thụ phấn ước tính lên tới 153 tỷ euro (208 tỷ USD) vào năm 2005.
Phát hiện loài cá mới không mắt
Các nhà ngư học tại Đại học Louisiana và Đại học Kentucky (Mỹ) vừa công bố về việc phát hiện một loài cá mới sống trong hang động ở miền nam Indiana.
Ảnh: Sci-News
Loài cá mới được đặt tên Amblyopsis hoosieri, có những chi tiết khác biệt so với cácloài hoosieri có từ trước, được đăng tải trên tạp chí Zookeys. Loài cá mới này có quan hệ gần gũi với cá Amblyopsis spelaea được biết đến trước đó và sinh sống trong hệ thống hang động dài nhất thế giới, hang Mammoth ở Kentucky. Tuy nhiên, hai loài cá có quan hệ bà con với nhau này bị phân cách bởi sông Ohio.
Một khác biệt rất rõ là cá Amblyopsis spelaea sở hữu gene rhodopsin nên đột biến để tạo tầm nhìn. Trong khi đó cá Amblyopsis hoosieri thì thiếu khả năng đột biến này nên thiếu mắt và bị mù. Tạp chí Sci-News cho biết các nhà khoa học mô tả loài cá mới dài chừng 6 - 8cm với phần đầu khá lớn so với toàn thân và phần lưng hơi phẳng.
Cá mù Amblyopsis hoosieri mang tính đồng nhất về sắc tố hồng trắng còn mang và vây trong suốt. Điểm đặc biệt là hậu môn của nó lại nằm ngay phía sau đầu còn cá cái thì lại mang lũ cá con trong hốc mang của nó. Loài cá mù này được phát hiện sống trong các dòng suối thuộc hang động đá vôi ở Indiana và môi trường của chúng là 0,1 - 2m dưới mặt nước.
Kangaroo sinh đôi hiếm ở Australia
Một cặp kangaroo sinh đôi mới được phát hiện ở Australia, đây là ca thứ hai được ghi nhận trong 15 năm qua.
Theo ABC của Australia cặp kangaroo sinh đôi được một tình nguyện viên có tên Lee Ricketts phát hiện ở Công viên Động vật Hoang dã Uralla.
Mandy English, giám đốc Uralla cho biết hiện tượng sinh đôi là điều hiếm thấy trong thế giới kangaroo. Cặp chuột túi sinh đôi đầu tiên được ghi nhận trong các khu bảo tồn ở Australia cách đây 15 năm.
"Đây là một hiện tượng rất hiếm. Chúng tôi may mắn khi được nhìn thấy hai con kangaroo sinh đôi trong túi của con mẹ. Chúng tôi rất hào hứng", Mandy nói.
Trong môi trường hoang dã, kangaroo sinh đôi thường khó sống sót vì con mẹ không thể chăm sóc cả hai cùng một lúc. Khi phát triển đến khoảng 3kg, kangaroo vẫn sống trong túi của mẹ. Đối với con mẹ, việc nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai là điều không dễ dàng.
Thông thường, con mẹ sẽ chỉ giữ lại cá thể khỏe mạnh hơn để nuôi dưỡng. Các nhân viên chăm sóc tại Uralla sẽ tiếp tục theo dõi kangaroo mẹ, có tên Izzy, trong 5 tháng tới. "Nếu Izzy bỏ lại một con, chúng tôi sẽ giữ lại và chăm sóc nó", Mandy cho hay.
Theo ABC của Australia cặp kangaroo sinh đôi được một tình nguyện viên có tên Lee Ricketts phát hiện ở Công viên Động vật Hoang dã Uralla.
Kangaroo sinh đôi trong túi con mẹ ở Công viên Động vật Hoang dã Uralla. (Ảnh: abc.net.au)
Mandy English, giám đốc Uralla cho biết hiện tượng sinh đôi là điều hiếm thấy trong thế giới kangaroo. Cặp chuột túi sinh đôi đầu tiên được ghi nhận trong các khu bảo tồn ở Australia cách đây 15 năm.
"Đây là một hiện tượng rất hiếm. Chúng tôi may mắn khi được nhìn thấy hai con kangaroo sinh đôi trong túi của con mẹ. Chúng tôi rất hào hứng", Mandy nói.
Trong môi trường hoang dã, kangaroo sinh đôi thường khó sống sót vì con mẹ không thể chăm sóc cả hai cùng một lúc. Khi phát triển đến khoảng 3kg, kangaroo vẫn sống trong túi của mẹ. Đối với con mẹ, việc nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai là điều không dễ dàng.
Thông thường, con mẹ sẽ chỉ giữ lại cá thể khỏe mạnh hơn để nuôi dưỡng. Các nhân viên chăm sóc tại Uralla sẽ tiếp tục theo dõi kangaroo mẹ, có tên Izzy, trong 5 tháng tới. "Nếu Izzy bỏ lại một con, chúng tôi sẽ giữ lại và chăm sóc nó", Mandy cho hay.
Sinh vật lạ có hình dáng giống rắn lai nhện
Sinh vật này có nửa trên giống rắn nhưng đuôi lại giống nhện.
Năm 1968, đoàn thám hiểm Second Street đã phát hiện ra một sinh vật kỳ lạ có hình dáng giống rắn nhưng lại pha trộn thêm đặc điểm ngoại hình của nhện.
Sau nhiều năm tập trung nghiên cứu, các nhà khoa học tiết lộ sinh vật tưởng chừng thuộc lớp nhện này thực chất là một rắn đuôi nhện có tên khoa học là Pseudocerastes urarachnoides.
Phía đuôi của loài rắn này được bao phủ bởi các chân nhỏ giống như chân nhện. Do hình dáng khác lạ mà nhiều người thường nhầm lẫn đây là một cá thể rắn bị đột biến gene hoặc bị sinh vật sống ký sinh trong cơ thể tấn công.
Năm 1968, đoàn thám hiểm Second Street đã phát hiện ra một sinh vật kỳ lạ có hình dáng giống rắn nhưng lại pha trộn thêm đặc điểm ngoại hình của nhện.
Sau nhiều năm tập trung nghiên cứu, các nhà khoa học tiết lộ sinh vật tưởng chừng thuộc lớp nhện này thực chất là một rắn đuôi nhện có tên khoa học là Pseudocerastes urarachnoides.
Phía đuôi của loài rắn này được bao phủ bởi các chân nhỏ giống như chân nhện. Do hình dáng khác lạ mà nhiều người thường nhầm lẫn đây là một cá thể rắn bị đột biến gene hoặc bị sinh vật sống ký sinh trong cơ thể tấn công.
Câu được cá mú khổng lồ, năng hơn trăm cân
Đây là một trong ba con cá mú khổng lồ từng được ghi nhận.
Mới đây, anh Cullen Greer - một người đàn ông sống tại thành phố Houston, bang Texas, Mỹ đã được ghi danh vào kỷ lục của bang Louisiana sau khi đã bắt được một con cá mú khổng lồ có cân nặng lên tới hơn trăm ký và cao quá đầu người.
Anh Cullen cho biết đã bắt được con cá khổng lồ cách bờ biển Louisiana khoảng hơn 50km, khu vực gần một giàn khoan ở Vịnh Mexico. Theo đó, đây là con cá mú Warsaw. Với cân nặng 135kg, chiều dài 1,98m và chu vi vòng thân là 1,83m, con cá mú khổng lồ dường như trông "nuốt chửng" lấy anh Cullen.
Phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ vật lộn, anh Cullen với đưa được con cá này lên trên thuyền. Theo tiết lộ, để bắt được con cá mú khổng lồ, người đàn ông đã phải dùng mồi sống để nhử.
Được biết, đây là con cá mú khổng lồ thứ 3 từng được ghi nhận. Trước đó, vào tháng 12/2008, người ta cũng đã bắt được một con có cân nặng 163kg.
Anh Cullen trông thật nhỏ bé khi đứng cạnh con cá mú khổng lồ
Mới đây, anh Cullen Greer - một người đàn ông sống tại thành phố Houston, bang Texas, Mỹ đã được ghi danh vào kỷ lục của bang Louisiana sau khi đã bắt được một con cá mú khổng lồ có cân nặng lên tới hơn trăm ký và cao quá đầu người.
Anh Cullen cho biết đã bắt được con cá khổng lồ cách bờ biển Louisiana khoảng hơn 50km, khu vực gần một giàn khoan ở Vịnh Mexico. Theo đó, đây là con cá mú Warsaw. Với cân nặng 135kg, chiều dài 1,98m và chu vi vòng thân là 1,83m, con cá mú khổng lồ dường như trông "nuốt chửng" lấy anh Cullen.
Phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ vật lộn, anh Cullen với đưa được con cá này lên trên thuyền. Theo tiết lộ, để bắt được con cá mú khổng lồ, người đàn ông đã phải dùng mồi sống để nhử.
Được biết, đây là con cá mú khổng lồ thứ 3 từng được ghi nhận. Trước đó, vào tháng 12/2008, người ta cũng đã bắt được một con có cân nặng 163kg.
Phát hiện loài sò khổng lồ mới sinh sống tại Australia
Các nhà khoa học Australia vừa vô tình phát hiện một loài sò khổng lồ mới sinh sống tại vùng biển phía Bắc Australia.
Loài sò mới chưa kịp đặt tên này thuộc loài sò khổng lồ vỏ khía rãnh, được phát hiện tại khu vực gần vỉa Ningaloo Reef, ở bang Tây Australia.
Shane Penny, nhà nghiên cứu thuộc Đại học Charles Darwin cho biết qua trao đổi các mẫu tế bào, giới khoa học Australia mới phát hiện ra loài này.
Trước đó, họ nghĩ loài này tương tự như loài Tridacna squanosa đã được biết đến.
Các nhà khoa học khẳng định phát hiện này sẽ làm đa dạng số lượng các loài sò tại Australia, nhưng cũng buộc các nhà quản lý phải quan tâm hơn tới việc bảo tồn sự đa dạng của các loài này.
Sò khổng lồ có giá trị cao trong thương mại và đã trở thành mục tiêu của những kẻ săn trộm trong những năm gần đây.
Loài sò mới chưa kịp đặt tên này thuộc loài sò khổng lồ vỏ khía rãnh, được phát hiện tại khu vực gần vỉa Ningaloo Reef, ở bang Tây Australia.
Shane Penny, nhà nghiên cứu thuộc Đại học Charles Darwin cho biết qua trao đổi các mẫu tế bào, giới khoa học Australia mới phát hiện ra loài này.
Trước đó, họ nghĩ loài này tương tự như loài Tridacna squanosa đã được biết đến.
Các nhà khoa học khẳng định phát hiện này sẽ làm đa dạng số lượng các loài sò tại Australia, nhưng cũng buộc các nhà quản lý phải quan tâm hơn tới việc bảo tồn sự đa dạng của các loài này.
Sò khổng lồ có giá trị cao trong thương mại và đã trở thành mục tiêu của những kẻ săn trộm trong những năm gần đây.
Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014
Bắt gặp cá voi trăm tuổi, sống lâu nhất thế giới
J2 hay còn gọi là Granny được biết đến là con cá voi lớn tuổi nhất hiện nay.
Cuối tuần qua, tại khu vực bờ biển đảo Vancouver, eo biển Georgia, người ta đã phát hiện ra một con cá voi hơn trăm tuổi có biệt danh là Granny. Granny hiện được cho là loài "thủy quái" sống lâu nhất thế giới từng được ghi nhận.
Granny là con cá voi lớn tuổi nhất thế giới hiện nay
Granny là một con cá voi cái 103 tuổi, có tên chính thức là J2. Được biết, vòng đời trung bình của cá voi cái thông thường sống trong môi trường tự nhiên là từ 70 - 90 năm, trong khi đó cá voi đực chỉ sống được từ 50 - 60 năm. Nhưng nếu trong môi trường nuôi nhốt, những con số này còn giảm đi đáng kể bởi một loạt những hạn chế như: không gian sống chật hẹp, đòi hỏi luyện tập cao, chế độ ăn uống trái với tự nhiên và tâm lý bị xa cách gia đình.
Hình ảnh con cá voi cái Granny, 103 tuổi
Lần đầu tiên người ta bắt gặp Granny là vào khoảng đầu những năm 1930. Sau này, khi trở thành mẹ và bà của đàn cá voi con, Granny vẫn thường xuyên giữ liên lạc với chúng mặc dù bị xa cách bởi sự can thiệp của con người.
Vì sao xúc tu bạch tuộc không bị rối vào nhau?
Các nhà khoa học cho biết bộ não của bạch tuộc không thể kiểm soát hoàn toàn cùng một lúc tám xúc tu và những chuyển động rất phức tạp của chúng. Tuy nhiên, các xúc tu đó lại không cuốn và rối vào nhau. Một nghiên cứu gần đây đã tìm ra cơ chế giúp chúng tránh được nguy cơ này.
Các nhà khoa học tại Đại học Hebrew Jerusalem của Israel cho biết, các giác hút trên xúc tu bạch tuộc sẽ bám vào bất kỳ vật gì ngoài cơ thể của nó.
Khi xúc tu con vật vừa chạm vào da nó, chất hóa học do da tiết ra sẽ làm các giác hút trên xúc tu tạm ngưng hoạt động và giúp chúng không bị rối vào nhau.
Để khám phá ra điều này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một thử nghiệm độc đáo. Họ cắt rời xúc tu của một con bạch tuộc và cho nó chạm vào một xúc tu khác, vẫn còn dính liền với cơ thể con vật.
Dù bị cắt rời khỏi cơ thể nhưng xúc tu vẫn có thể cử động một lúc lâu, vẫn có thể di chuyển, cuốn vào các vật thể và giác hút vẫn hoạt động. Xúc tu bị cắt rời không thể bám vào những xúc tu khác, nhưng khi các nhà khoa học lột da đi thì nó lại có thể bám vào.
Các nhà khoa học cho biết họ hoàn toàn ngạc nhiên bởi giải pháp thông minh và đơn giản của loại bạch tuộc.
Con sứa tím đầu tiên trên hành tinh
Một con sứa có màu tím với các xúc tu dài đột biến mới được phát hiện ở Australia, có thể thuộc về một loài chưa từng được biết đến.
Con sứa được phát hiện trôi dạt ở bờ biển Coolum, bang Queensland, sáng 21/5. Nó có màu tím đặc trưng và những chiếc xúc tu dài khoảng một mét.
Sứa màu tía trên bãi biển Coolum, bang Queensland. (Ảnh: AAP)
Sau khi phát hiện sinh vật kỳ lạ, các nhân viên cứu hộ bãi biển đã liên lạc với các nhà khoa học thuộc tổ chức nghiên cứu Underwater World. Theo nhóm nghiên cứu, sinh vật này có thể là một loài chưa từng được biết đến trên thế giới.
Tiến sĩ Lisa Gershwin, một thành viên của nhóm nghiên cứu, cho rằng cá thể này có thể thuộc loài thysanostoma. Nhưng thông thường, đây là loài có màu nâu hoặc màu be.
Guardian cho hay, các chuyên gia sinh vật biển vẫn đang cố gắng xác định tên của loài sứa, tuy nhiên màu sắc kỳ lạ của nó đang khiến họ lúng túng. "Sự khác biệt về màu sắc đặt ra câu hỏi rằng, liệu loài sứa này có đặc điểm nào khác hay không", Gershwin, chuyên gia của trung tâm nghiên cứu CSIRO nói.
Sứa thysanostoma hiếm được nhìn thấy ở vùng biển Australia, đặc biệt là bờ biển phía đông nam của Queensland, bởi chúng thích sống ở những vùng biển nhiệt đới ấm hơn.
Phát hiện mới về loài côn trùng ký sinh "khát máu"
Loài côn trùng này sẽ sống ký sinh trên vật chủ, hút cạn chất dinh dưỡng và rồi bay đi...
Trong một lần đi công tác thực địa rừng mây ở Ecuador, giáo sư Scott Shaw thuộc ĐH Wyoming (Mỹ), Laramie và các đồng nghiệp đã phát hiện ra 24 loài ong bắp cày mới.
Trong tổng số 24 loài côn trùng mới được mô tả này, một số loài đã được đặt tên theo những người nổi tiếng như nghệ sĩ Ecuador - Eduardo Kingman, nhà thơ người Mỹ - Robert Frost, ca sĩ, nhạc sĩ người Colombia - Shakira...
Qua nghiên cứu, giáo sư Scott Shaw cho biết: "Loài ong bắp cày mới được phát hiện này khá nhỏ, chỉ dài 4 - 9mm nhưng lại có một tác động rất lớn đến hệ sinh thái rừng".
Loài ong bắp cày Shakira lựa chọn những con sâu bướm làm vật chủ để nuôi lớn bào thai mới nở. Những ấu trùng ký sinh này không ngay lập tức giết chết sâu bướm mà biến chúng thành những lá chắn, bảo vệ cho mình trong suốt một thời gian dài. Trong lúc này, ấu trùng ký sinh sẽ hút cạn các chất dinh dưỡng từ vật chủ để nuôi lớn bản thân.
Cuối cùng, ấu trùng của ong bắp cày sẽ tạo kén bên trong xác của vật chủ. Khi đã hoàn toàn trưởng thành, cá thể sẽ tạo ra một lỗ thoát từ xác sâu bướm và bay đi để giao phối, tiếp tục chu kỳ về hành vi ký sinh của mình.
Hình ảnh một sâu bướm đang bị ấu trùng ký sinh của ong bắp cày tấn công
Giáo sư Shaw nói rằng: "Mặc dù hành vi giết hại vật chủ - sâu bướm là xấu nhưng thực tế, đây là loài côn trùng rất có lợi. Nhưng một cách tự nhiên, những cá thể ong bắp cày này đã kiểm soát dân số của sâu bướm ăn cây, vì vậy đã duy trì sự đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới".
Các nghiên cứu thực địa trước đây được thực hiện bởi giáo sư Shaw tại trạm nghiên cứu lâm nghiệp Yanayacu của tỉnh Napo, trong dãy Andes phía Đông Ecuador cũng đã phát hiện ra 9 loài ong bắp cày biết ký sinh và sát hại vật chủ.
Phát hiện của các nhà khoa học đã mở rộng phạm vi phân bố của loài ong bắp cày ký sinh cũng như hiểu hơn về tập tính sinh hoạt của chúng và sự tác động đến môi trường sinh thái.
Nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ Khoa học Quốc gia Ecuador.
Phát hiện loài chuối hoang dã mới tại Ấn Độ
Các nhà thực vật học đến từ đại học Calicut ở Kerala, Ấn Độ đã công bố những thông tin mô tả về loài chuối hoang dã mới được phát hiện thuộc giống Musa.
Musa là chi (giống) thực vật gốc ở Ấn Độ-Malesian, châu Á và vùng nhiệt đới nước Úc.
Giống chuối hoang dã mới được phát hiện. (Ảnh: Sci-News)
Các loài trong chi Musa khá lớn, chúng được xếp vào dạng thảo mộc lưu niên, có thể cao đến 9m. Trái cây thường có hình trụ dài, từ thẳng đến cong một cách mạnh mẽ, trái có thể dài 40cm và đường kính 8cm.
Có năm phân giống trong chi thực vật Musa là Australimusa, Callimusa, Musa, Rhodochlamys và Ingentimusa. Hai trong số đó là loại chuối có thể ăn được.
Riêng loài mới được phát hiện và mô tả được đặt tên là Musa arunachalensis thuộc vềphân chi Rhodochlamys.
Chuối Rhodochlamys đặc trưng bởi chùm hoa có thể dựng lên hoặc rũ xuống nhưng luôn hướng quả về phần đỉnh của cụm hoa.
Phần lớn chi thực vật Musa tương đối ít trái và vẻ ngoài của chúng dường như thích hợp để trồng làm cây cảnh.
Tạp chí Sci-News cho biết chuối hoang dã Musa arunachalesis được tìm thấy ở West Kameng District, Arunachal Pradesh, đông bắc Ấn Độ. Loài này nở hoa và đậu quả từ tháng giêng đến tháng năm. Điểm khác biệt với Musa khác trong bản chất cụm hoa với lá bắc màu cam đỏ và phần đỉnh màu vàng.
Nghệ thuật ngụy trang của sâu bướm
Hình thù dễ nhầm lẫn với rắn, ốc sên hay các loài thực vật có thể giúp sâu bướm ngụy trang và tự vệ.
Sâu bướm Hemeroplanes triptolemus là ấu trùng của loài bướm đêm thuộc họ Sphingidae, thường được tìm thấy ở nhiều khu vực của Nam Mỹ, châu Phi và Trung Á. Ở dạng ấu trùng, Hemeroplanes có thể phát triển và mở rộng các phần cơ thể, đặc biệt là phần thân trước, khiến chúng có hình dáng như một con rắn nhỏ.
Ấu trùng của loài bướm Papilio troilus có cặp mắt lớn, khiến chúng có hình thù như một kẻ săn mồi cơ hội và đáng sợ.
Con sâu bướm này có hình thù bắt mắt với những búi lông dài màu trắng và nhiều lông gai. Tuy nhiên, đây lại là đặc điểm giúp chúng ngụy trang chất độc.
Phần bụng của con sâu bướm này có kích thước lớn, màu xanh lá và chồng lên phần đầu thật của nó. Đặc điểm này dễ gây nhầm lẫn sâu bướm với một quả dâu chưa chín, giúp chúng tránh được nguy cơ bị chim tấn công.
Khi bị quấy rầy, phần thân của ấu trùng của loài bướm đêm Cerura vinula sẽ phồng lên, làm lộ phần đầu lớn có màu đỏ và đôi mắt giả màu đen. Hai tua nhỏ ở phía sau kéo dài qua lưng, các tiểu quản được đẩy ra từ đầu mút, mang theo một thứ mùi mạnh và khó chịu. Nếu hành động này không đủ để hăm dọa kẻ thù, sâu bướm thậm chí có thể phun cả axit.
Để đối phó với thời tiết lạnh, sâu bướm Gynaephora groenlandica sẽ tiết ra một loại protein có thể giúp tế bào không bị đóng băng hoàn toàn. Cơ thể được bao phủ bởi lớp lông dày cũng có thể giúp chúng hạn chế mất nhiệt.
Sâu bướm Hyalophora cecropia với cái núm nhọn nhiều màu sắc.
Sâu bướm Acharia stimulea có hai màu đặc trưng là xanh lá và nâu. Các gai nhọn chứa chất độc kích thích là lợi thế giúp chúng trốn thoát kẻ thù. Khi tiếp xúc với lông hoặc gai trên thân sâu bướm, phần da trên cơ thể người sẽ bị sưng, có cảm giác đau và thậm chí là buồn nôn.
Các đốm màu và lông tua tủa khiến sâu bướm Orgyia leucostigma dễ bị nhầm lẫn với nhiều loài thực vật.
Sâu bướm Papilio cresphontes có đặc trưng là hai chiếc sừng nhỏ màu đỏ, mở rộng ra phía trước và có mùi thơm.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

















































